Bản án 236/2020/HSST ngày 25/08/2020 về tội môi giới mại dâm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 236/2020/HSST NGÀY 25/08/2020 VỀ TỘI MÔI GIỚI MẠI DÂM

Ngày 25 tháng 08 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 248/2020/HSST ngày 28 tháng 07 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 266/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 08 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Diệu L – sinh năm 1999; Hộ khẩu thường trú: thị trấn X, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở: không có nơi ở cố định; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: tự do; Con ông: Nguyễn Văn D (đã chết), Con bà: Nguyễn Thị P, gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02 Tiền án, tiền sự: không.

Danh chỉ bản số 274 lập ngày 19/05/2020 do Công an quận Hai Bà Trưng cung cấp. Bắt quả tang ngày 18/05/2020 hiện đang tạm giam tại trại giam số 1 – Công an thanh phố Hà Nội.

(Có mặt tại phiên toà)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Lê Văn P – sinh năm1989 HKTT và trú tại: Xã T, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt tại phiên toà)

2. Chị Nguyễn Thị Quỳnh T – sinh năm 2000 HKTT và trú tại: xã X, huyện Phúc Thọ, Hà Nội 

3. Anh Nguyễn Hải A – sinh năm 1995 (Vắng mặt tại phiên toà) HKTT và trú tại: P.Đồng Nhân, Hai Bà Trưng, Hà Nội (Vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14h30’ ngày 18/05/2020, Lê Văn P cùng bạn là Nguyễn Hải A gặp nhau uống nước và nảy sinh ý định tìm gái bán dâm để quan hệ tình dục. Sau khi thống nhất, do quen Nguyễn Thị Diệu L (gái bán dâm) nên P đã liên hệ với L qua zalo để mua dâm, thỏa thuận giá bán dâm là 5.000.000 đồng một lần mua dâm. P nhờ L gọi thêm một gái bán dâm nữa cho Nguyễn Hải A. L đồng ý. Sau đó, L rủ Nguyễn Thị Quỳnh T đi bán dâm, T đồng ý và báo giá là 6.000.000 đồng một lần mua dâm. L báo lại cho P giá bán dâm của T, P và Hải A đồng ý. Sau đó P báo địa chỉ khách sạn cho L.

Khoảng 15h30’cùng ngày, P và Hải A đi đến khách sạn A25, địa chỉ: số 221 – 223 Bạch Mai, P.Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội thuê phòng 302 và 401 rồi thông báo cho L. Khoảng 16h T đến khách sạn A25, lên phòng 401 gặp P. P đưa cho T 6.000.000 đồng tiền mua dâm. Một lát sau L đến khách sạn và lên phòng 302 gặp Hải A, tại đây Hải A đưa cho L 5.000.000 đồng tiền mua dâm của L và cho thêm 500.000 đồng.

Khoảng 16h10’ cùng ngày, đội cảnh sát hình sự - Công an quận Hai Bà Trưng tiếp nhận tin báo tố giác của lễ tân khách sạn A25, địa chỉ: số 221 – 223 Bạch Mai, P.Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội về việc nghi vấn tại phòng 302, 401 của khách sạn có hoạt động mua bán dâm.

Khoảng 16h40’ cùng ngày, khi các đối tượng đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị lực lượng công an phường Cầu Dền phối hợp với Đội CSHS - Công an quận Hai Bà Trưng kiểm tra hành chính và đưa về trụ sở để điều tra làm rõ.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Thị Diệu L: 01 điện thoại di động Iphone 11 pro màu trắng, 01 bao cao su đã qua sử dụng và số tiền 5.500.000 đồng; thu giữ của Nguyễn Thị Quỳnh T: 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone Xsmax màu vàng hồng và số tiền 6.000.000 đồng; thu giữ của Lê Văn P: 01 điện thoại Iphone 5C màu trắng.

Ti cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Diệu L thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đối với Nguyễn Thị Quỳnh T, Nguyễn Hải A và Lê Văn P: xét hành vi vi phạm, Công an quận Hai Bà Trưng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua, bán dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 22 và khoản 1 Điều 23 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội với mức phạt 200.000 đồng đối với Nguyễn Thị Diệu L, Nguyễn Thị Quỳnh T và 750.000 đồng đối với Nguyễn Hải A và Lê Văn P.

Đối với 03 chiếc điện thoại thu giữ của L và các đối tượng bao gồm: 01 điện thoại di động Iphone 11 pro màu trắng, 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone Xsmax màu vàng hồng và 01 điện thoại Iphone 5C màu trắng là tài sản cá nhân và sử dụng để môi giới bán dâm vào ngày 18/05/2020. Số tiền 11.500.000 đồng thu giữ của L và T là tiền bán dâm được mà có.

Ti Bản cáo trạng số 225/CT-VKSHBT-HS ngày 22 tháng 07 năm 2020 đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Diệu L về tội Môi giới mại dâm quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan công an, công nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Nguyễn Thị Diệu L như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng. Sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 328, điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Diệu L với mức án từ 8 đến 12 tháng tù. Phạt tiền 10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước : 01 điện thoại di động Iphone 11 pro màu trắng, đã qua sử dụng không rõ nguồn gốc chất lượng; số Imei: 3538 3310 2179 832; Imei sim kỹ thuật số: 3538 3310 2134 514; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS max màu vàng hồng, đã qua sử dụng không rõ nguồn gốc chất lượng; số Imei sim thực: 3531 1110 2423 389; Imei sim kỹ thuật số: 3531 1110 2455 571; 01 điện thoại Iphone 5C màu trắng, đã qua sử dụng không rõ nguồn gốc chất lượng; số Imei: 3579 9605 5794 86 thoại thu giữ của Nguyễn Thị Diệu L, Nguyễn Thị Quỳnh T và Lê Văn P do có liên quan đến hành vi phạm tội.

- Đối với số tiền 11.500.000 đồng thu giữ của L và T là tiền bán dâm nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản kiểm tra hành chính; phù hợp với lời khai của người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 18/05/2020, tại khách sạn A25, địa chỉ: số 221 – 223 Bạch Mai, P.Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Nguyễn Thị Diệu L đã môi giới cho Nguyễn Thị Quỳnh T đi bán dâm với giá 6.000.000 đồng .

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyn Thị Diệu L đã đã đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điu 328 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

1. Người nào làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.” Do đó viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố bị cáo về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó không chỉ làm băng hoại đạo đức lối sống làm tan vỡ nhiều gia đình hạnh phúc, làm lan truyền căn bệnh dẫn đến chết người HIV- AIDS, mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Hành vi đó của bị cáo không những xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh và sức khỏe con người, mà còn trái với thuần phong mỹ tục, gây dư luận bất bình trong nhân dân. Do vậy việc xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự là cần thiết để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với mức độ phạm tội để xử lý và cải tạo bị cáo tiến bộ, lao động có ích cho gia đình và xã hội.

[3]. Xét nhân thân của bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, đây là những tình tiết được giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét bị cáo Nguyễn Thị Diệu L không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5].Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:

- Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su đã qua sử dụng.

- Đối với các điện thoại thu giữ của Nguyễn Thị Diệu L, Nguyễn Thị Quỳnh T, Lê Văn P do có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước gồm:

+ 01 điện thoại di động Iphone 11 pro màu trắng, đã qua sử dụng không rõ nguồn gốc chất lượng; số Imei: 3538 3310 2179 832; Imei sim kỹ thuật số: 3538 3310 2134 514.

+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS max màu vàng hồng, đã qua sử dụng không rõ nguồn gốc chất lượng; số Imei sim thực: 3531 1110 2423 389; Imei sim kỹ thuật số: 3531 1110 2455 571.

+ 01 điện thoại Iphone 5C màu trắng, đã qua sử dụng không rõ nguồn gốc chất lượng; số Imei: 3579 9605 5794 86.

- Đối với số tiền 11.500.000 đồng thu giữ của L và T là tiền bán dâm nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với Nguyễn Thị Quỳnh T, Nguyễn Hải A và Lê Văn P, Công an quận Hai Bà Trưng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua, bán dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 22 và khoản 1 Điều 23 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội với mức phạt 200.000 đồng đối với Nguyễn Thị Diệu L, Nguyễn Thị Quỳnh T và 750.000 đồng đối với Nguyễn Hải A và Lê Văn P nên không xét.

[6]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố :Bị cáo Nguyễn Thị Diệu L phạm tội: “Môi giới mại dâm”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 328, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị Diệu L 7 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 18/05/2020.

2. Về hình phạt bổ sung : Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng :

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

- Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su đã qua sử dụng - Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước:

+ 01 điện thoại di động Iphone 11 pro màu trắng, đã qua sử dụng không rõ nguồn gốc chất lượng; số Imei: 3538 3310 2179 832; Imei sim kỹ thuật số: 3538 3310 2134 514.

+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS max màu vàng hồng, đã qua sử dụng không rõ nguồn gốc chất lượng; số Imei sim thực: 3531 1110 2423 389; Imei sim kỹ thuật số: 3531 1110 2455 571.

+ 01 điện thoại Iphone 5C màu trắng, đã qua sử dụng không rõ nguồn gốc chất lượng; số Imei: 3579 9605 5794 86.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 11.500.000 đồng.

c tang vật trên hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng - Thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 14 tháng 08 năm 2020 (TV:319/20) giữa Công an quận Hai Bà Trưng và Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng và theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 20 tháng 07 năm 2020).

4. Về án phí : Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thị Diệu L phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo : Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền,lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


8
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về