Bản án 234/2020/HNGĐ-ST ngày 31/08/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 234/2020/HNGĐ-ST NGÀY 31/08/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 31 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 660/2020/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 256/2020/QĐXX-ST ngày 20/7/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 136/2020/QĐST-HNGĐ ngày 10/8/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mộng Kim C, sinh năm 1985 (có mặt).

Đa chỉ: Ấp A, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1981 (vắng măt). Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn bà Trần Thị Mộng Kim C thể hiện:

Bà C và ông Nguyễn Quốc T xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An vào ngày 08/11/2004. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gổ, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Ông bà đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Quốc T.

Về con chung: Quá trình chung sống bà C và ông T có 01 con chung tên Nguyễn Trần Hoàng M, sinh ngày 12/4/2006. Hiện con đang sống với bà C. Khi ly hôn, bà C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn ông Nguyễn Quốc T tham gia tố tụng để giải quyết vụ án nhưng ông T vắng mặt không lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến nên không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trần Thị Mộng Kim C nộp đơn khởi kiện ly hôn với ông Nguyễn Quốc T có địa chỉ cư trú tại xã B, huyện Đ, tỉnh Long An nên căn cứ vào Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về ly hôn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Trần Thị Mộng Kim C có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, căn cứ vào Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án trên thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Do đó Tòa án chỉ tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải.

Ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân: Bà C và ông T tự nguyện tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 08/11/2004 tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Long An nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ phần trình bày của bà C về mâu thuẫn của vợ chồng không thể hàn gắn, hiện không còn sống chung, không quan tâm lo lắng cho nhau, bà Cg vẫn giữ yêu cầu ly hôn với ông T, bị đơn ông T đã được Tòa án thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng tỏ ông T không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Qua đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà C và ông T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân của các bên không đạt được, nên căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Mộng Kim C.

Về con chung: Bà Cương và ông Thắng có 01 con chung tên Nguyễn Trần Hoàng M, sinh ngày 12/4/2006. Hiện con đang sống với bà C. Khi ly hôn, bà C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, Cháu M từ lúc sinh ra đến nay bé sống cùng mẹ, được mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục phát triển khỏe mạnh, toàn diện. Ngoài ra, cháu đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được sống cùng mẹ nên căn cứ vào điều kiện của các bên; quyền lợi về mọi mặt và lợi ích của con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nguyễn Trần Hoàng M cho bà C tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà C không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà C trình bày vợ chồng tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Bà C trình bày không có.

Bị đơn ông T vắng mặt không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau này các đương sự có tranh chấp thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.

[4] Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị Mộng Kim C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNHe

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 18, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trần Thị Mộng Kim C.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mộng Kim C được ly hôn với ông Nguyễn Quốc T.

Về con chung: Bà Trần Thị Mộng Kim C được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Trần Hoàng M, sinh ngày 12/4/2006.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu.

Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Khi cần thiết các bên có thể thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

2. Về án phí: Bà Trần Thị Mộng Kim C phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà Cương đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005673 ngày 26/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. Bà Cđã nộp xong.

3. Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Mộng Kim C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Quốc T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


16
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 234/2020/HNGĐ-ST ngày 31/08/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:234/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:31/08/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về