Bản án 233/2018/HNGĐ-ST ngày 28/09/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 233/2018/HNGĐ-ST NGÀY 28/09/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 28 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 873/2018/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 282/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Mai L, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Số 125/18 khu vực H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Anh Trần Quốc H, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Số 327, khu vực M, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. (Chị L có mặt, anh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 30 tháng 7 năm 2018 và những lời khai tiếp theo cũng như tại phiên tòa, chị Hoàng Thị Mai L trình bày: Chị và anh Trần Quốc H chung sống với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, nên thường xuyên cãi nhau, anh H không quan tâm vợ con. Chị và anh H đã ly thân từ tháng 9 năm 2017 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị yêu cầu ly hôn với anh H.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh H có một con chung tên Trần Hoàng Bảo N, sinh ngày 10/9/2016 (hiện nay chị đang nuôi dưỡng). Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Trần Quốc H có yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nhưng tại Bản tự khai ngày 10/9/1018 anh H trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị L về thời gian chung sống, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn, con chung. Nay chị L yêu cầu ly hôn, anh đồng ý.

Về con chung: Khi ly hôn, anh H đồng ý để chị L tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Trần Hoàng Bảo N, sinh ngày 10/9/2016, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh H thống nhất trình bày không có.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho anh Trần Quốc H, anh H có bản tự khai và có yêu cầu xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp công khai chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Hoàng Thị Mai L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Trần Quốc H, anh H hiện có hộ khẩu thường trú và đang có mặt tại khu vực M, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn anh Trần Quốc H vắng mặt nhưng anh có đơn yêu cầu vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Mai L và anh Trần Quốc H chung sống với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ nên hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3]. Trong quá trình chung sống, chị L và anh H phát sinh mâu thuẫn nên sống ly thân từ tháng 9 năm 2017 cho đến nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị L yêu cầu ly hôn. Anh H xin vắng mặt nhưng tại bản tự khai anh cũng đồng ý ly hôn vì tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa.

Xét thấy, chị L và anh H đều trình bày tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, không thể hàn gắn và đồng ý ly hôn nhưng Tòa án không tiến hành hòa giải được do anh H đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh H là có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4]. Về con chung: Chị L và anh H thống nhất có một con chung tên Trần Hoàng Bảo N, sinh ngày 10/9/2016. Tại phiên tòa, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Anh H có lời trình bày đồng ý để chị L tiếp tục nuôi con chung.

Xét thấy, sự thỏa thuận về con chung của chị L và anh H là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về tài sản chung và nợ chung: Tại phiên tòa, chị L trình bày không có, tại bản tự khai anh H cũng trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về án phí: Chị Hoàng Thị Mai L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 9, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Mai L đối với anh Trần Quốc H về việc “Ly hôn”.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Mai L được ly hôn với anh Trần Quốc H.

- Về con chung: Chị Hoàng Thị Mai L được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Trần Hoàng Bảo N, sinh ngày 10/9/2016. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị L không có yêu cầu.

Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, bên trực tiếp nuôi con không được quyền ngăn cản. Khi cần thiết có thể yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

2. Về án phí: Chị Hoàng Thị Mai L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0002947 ngày 30/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An để thi hành.

Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, chị L có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh H vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


75
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 233/2018/HNGĐ-ST ngày 28/09/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:233/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:28/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về