Bản án 23/2019/DS-PT ngày 21/02/2019 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 23/2019/DS-PT NGÀY 21/02/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN

Trong ngày 21 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 296/2018/TLPT-DS ngày 18 tháng 12 năm 2018 về việc:“Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 42/2018/ DS-ST ngày 29/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện U bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 354/2018/QĐ-PT ngày 27 tháng 12 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Bùi Văn H1, sinh năm 1955

Địa chỉ: Ấp 1, xã Khánh L, huyện U, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thanh H, sinh năm 1960 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm 3, thị trấn U, huyện U, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Lê Văn H2, sinh năm 1978

Địa chỉ: Ấp 3, xã Khánh H, huyện U, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh H2: Luật sư Đinh Thanh T - Chi nhánh văn phòng Luật sư T tại Cà Mau thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985 (là người đại diện theo ủy quyền của anh H2) (có mặt).

Địa chỉ: Ấp 3, xã Khánh H, huyện U, tỉnh Cà Mau.

2. Bà Trịnh Thị H, sinh năm 1951 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp 1, xã Khánh L, huyện U, tỉnh Cà Mau.

Người kháng cáo: Anh Lê Văn H2 – Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Trần Thanh H trình bày:

Vào ngày 19 tháng 01 năm 2014 (âm lịch) ông H1 có bán cho anh Lê Văn H2 một chiếc ghe biển, máy và một số dụng cụ với giá là 35.000.000 đồng, ông H1 đã giao ghe, máy cho anh H2, anh H2 trả trước 15.000.000 đồng. Do không thanh toán số tiền còn lại, cho nên vào tháng 02/2018, ông H1 có giữ ghe của anh H2, anh H2 trình báo Công an và có Quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Sau đó anh H2 trả thêm 2.000.000 đồng vào tháng 3/2018, còn thiếu lại 18.000.000 đồng đến nay chưa trả. Ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh H2 trả 18.000.000 đồng và tính lãi suất từ tháng 2 năm 2014 đến tháng 2 năm 2018 âm lịch trên số tiền 20.000.000 đồng do đến tháng 02 năm 2018 anh H2 vẫn còn thiếu 20.000.000 đồng.

- Theo người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, chị Nguyễn Thị T trình bày:

Vào khoảng tháng 02 năm 2015 (âm lịch), anh H2 là chồng của chị có mua của ông H1 một chiếc ghe, trả trước được 15.000.000 đồng, sau khi ông H1 giữ ghe thì trả thêm 2.000.000 đồng, đến nay còn thiếu 18.000.000 đồng. Đồng ý trả cho ông H1 18.000.000 đồng và trả lãi theo quy định của ngân hàng tính từ tháng 02 năm 2015 đến tháng 02 năm 2018.

Ngoài ra, anh H2 có yêu cầu phản tố với nội dung: Từ ngày 15/2/2018 đến ngày 19/3/2018 (âm lịch) ông H1 và Công an huyện U giữ ghe làm cho vợ chồng chị mất thu nhập, do đó yêu cầu ông H1 trả tiền mất thu nhập 34 ngày, mỗi ngày 2.000.000 đồng với tổng số tiền là 68.000.000 đồng.

- Theo anh Lê Văn H2 trình bày: Anh thừa nhận có thiếu ông H1 số tiền 18.000.000 đồng tiền mua ghe, thiếu từ tháng 3 năm 2015 âm lịch đến nay, khi mua bán chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không thỏa thuận lãi suất. Nay vì hoàn cảnh khó khăn không thể thanh toán trong 1 lần nên xin trả mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến dứt nợ và anh yêu cầu ông H1 phải bồi thường tiền mất thu nhập trong thời gian giữ ghe với số tiền là 72.000.000 đồng.

- Theo bà Trịnh Thị H trình bày: Bà thống nhất với toàn bộ ý kiến của chồng là ông H1.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 42/2018/DS-ST ngày 29/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện U quyết định:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 271; khoản Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, 589 Bộ luật dân sự; Khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Văn H1 đối với anh Lê Văn H2 về việc yêu cầu trả tiền mua bán ghe biển.

Buộc anh H2 trả cho ông H1, bà H số tiền mua ghe còn thiếu là 18.000.000 đồng và tiền lãi là 8.100.000 đồng. Tổng cộng 26.100.000 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu của anh H2 và chị T về việc buộc ông H1 bồi thường tiền giữ ghe trong 34 ngày bằng số tiền 68.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 09/11/2018 chị T là đại diện theo ủy quyền của bị đơn có đơn kháng cáo với nội dung: Yêu cầu ông Bùi Văn H1 bồi thường cho vợ chồng chị số tiền mất thu nhập trong 34 ngày với số tiền 68.000.000 đồng.

Tại phiên tòa: Chị T vẫn vẫn nguyên yêu cầu kháng cáo; bà H không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh H2, chị T và có yêu cầu xin được miễn các khoản tiền án phí nếu như phải có trách nhiệm nộp.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh H2 yêu cầu Hủy bản án sơ thẩm vì cấp sơ thẩm không đưa anh L, anh C là người điều khiển chiếc ghe khi ông H1 lấy ghe, và tính lãi suất 8.100.000 đồng là chưa đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hủy bản án sơ thẩm vì không đưa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện U tham gia tố tụng.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vào ngày 21/01/2019 Tòa án nhận được giấy giới thiệu của Chi nhánh văn phòng Luật sư T thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh cử Luật sư Đinh Thanh Triển là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Lê Văn H2, được Tòa án chấp nhận. Đối với ông Trần Thanh H là người đại diện theo ủy quyền của anh H2 đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông Hưng.

[2] Về nội dung:

Xem xét yêu cầu kháng cáo của anh Lê Văn H2 với nội dung: Kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án để buộc ông H1 bồi thường số tiền mất thu nhập trong thời gian 34 ngày với số tiền 68.000.000 đồng. Qua xem xét toàn bộ những chứng cứ thể hiện: Ông H1 bán cho anh H2 một chiếc ghe, máy, dụng cụ...giá 35.000.000 đồng, anh Hải trả trước 15.000.000 đồng, số tiền 20.000.000 đồng còn lại do chậm thanh toán, nên ông H1 đã giữ chiếc ghe của anh H2, sự việc giữ ghe đã được Công an huyện thụ lý và ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Việc anh H2 thiếu tiền mua bán không thanh toán đúng thời hạn là vi phạm nghĩa vụ thanh toán, đã xâm phạm đến quyền lợi của ông H1, ông H1 có quyền khởi kiện theo quy định pháp luật, nhưng trong vụ án này ông H1 đã giữ chiếc ghe, hành vi này của ông H1 là trái pháp luật. Theo quy định tại Điều 584 của Bộ luật dân sự: “Người nào có hành vi xâm phạm ...tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Vì vậy, anh H2 yêu cầu ông H1 bồi thường thiệt hại là có căn cứ chấp nhận. Anh H2 yêu cầu với thời gian là 34 ngày kể từ lúc ông H1 giữ chiếc ghe đến khi được nhận lại.Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này Công an huyện thụ lý hồ sơ và có biên bản tạm giữ chiếc ghe 15 ngày (từ ngày 21/3 đến 04/4/2018 tháng 03/2018 có 31 ngày); ông H1 chỉ giữ chiếc ghe 19 ngày (từ 02/3 đến 20/3/2018), cho nên chấp nhận thời gian bồi thường là 19 ngày.

Số tiền anh H2 yêu cầu 68.000.000 đồng (bình quân 2.000.000 đồng/ngày), anh H2 cung cấp một văn bản có xác nhận vào tháng 01/2018 anh bán hải sản cho vựa là 80.000.000 đồng; ngày 19/02/2019 và trước khi mở phiên tòa phúc thẩm có cung cấp thêm một số hóa đơn bán lẻ, từ đó quy ra bình quân mỗi ngày 2.000.000 đồng. Với những chứng từ này thì chưa đủ cơ sở để chấp nhận mức thu nhập khai thác từ chiếc ghe là 2.000.000 đồng/ngày. Tại khoản 2 Điều 589 của Bộ luật dân sự quy định: “Thiệt hại do tài sản bị xâm hại là lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút”. Nhận thấy, nguyên nhân của thiệt hại cũng có một phần lỗi của anh H2, vì mua tài sản nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán, kéo dài thời gian dẫn đến nguyên đơn không kiềm chế được. Do anh H2 không đưa ra được căn cứ pháp lý để chứng minh thu nhập mỗi ngày từ chiếc ghe, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào thu nhập bình quân lao động phổ thông mà mỗi ngày anh H2 không có thu nhập với mức 400.000 đồng/ngày x 19 ngày = 7.600.000 đồng. Buộc ông H1 thanh toán tiền bồi thường thiệt hại trong thời gian giữ chiếc ghe cho anh H2, chị T với tổng số tiền bằng 7.600.000 đồng (anh H2 đứng đơn yêu cầu phản tố, nhưng đây là tài sản chung, chị T cũng có yêu cầu nên buộc ông H1 thanh toán tiền cho vợ chồng anh H2, chị T).

Trường hợp ông H1 chậm thanh toán phải chịu lãi suất theo quy định của pháp luật.

[3] Từ những phân tích trên, chấp nhận một phần kháng cáo của anh H2, sửa bản án dân sự số 42/2018/DS-ST ngày 29-10-2018 của Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh Cà Mau về yêu cầu bồi thường thiệt hại của anh H2 đối với ông H1.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Nhận thấy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện U tiếp nhận tin báo về tội phạm của Lê Văn H2. Qua xác minh do không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông H1, nên đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 09 ngày 16/4/2018. Xét thấy, đối với tranh chấp giữa các bên đương sự không liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của Cơ quan Cảnh sát điều tra cho nên không đưa vào tham gia tố tụng trong vụ án dân sự. Hội đồng xét xử đã chấp nhận một phần kháng cáo của anh H2 như đã nhận định ở trên, nên không hủy một phần bản án sơ thẩm theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[5] Xét yêu cầu của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh H2: Bà H điện thoại kêu Bùi Út C điều khiển ghe và C rủ bạn là Trịnh Hoàng L đi cùng. C và L không liên đến việc vợ chồng ông H1 lấy chiếc ghe, C là người do bà H nhờ điều khiển chiếc ghe chứ không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến tranh chấp của vụ án nên không phải tham gia tố tụng trong vụ án, do đó cấp sơ thẩm không vi phạm thủ tục tố tụng. Đối với lãi suất, anh H2 và chị T không kháng cáo mà đồng thanh toán cho ông H1; mặt khác cấp sơ thẩm tính phần tiền lãi suất là đúng. Vì vậy, yêu cầu của Luật sư không được chấp nhận toàn bộ.

[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Anh H2 không phải chịu, đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0004041 ngày 09/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U, được nhận lại toàn bộ (do chị Nguyễn Thị T đứng tên nộp tiền).

[7] Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5%: Do sửa bản án nên phần án phí được tính lại.

+ Anh H2 phải chịu án phí đối với yêu cầu khởi kiện của ông H1 với số tiền 1.305.000 đồng và chịu án phí đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận với số tiền 3.020.000 đồng [(68.000.000đ – 7.600.000đ = 60.400.000đ) x 5% = 3.020.000 đồng], tổng cộng 4.325.000 đồng. Anh H2 đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm 1.800.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0012166 ngày 27/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U được khấu trừ, phải nộp tiếp 2.525.000 đồng. Anh H2 và chị T có trách nhiệm liên đới nộp.

+ Ông H1, bà H là được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Ông H1 đã nộp tạm ứng án phí 950.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0012086 ngày 06/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U được nhận lại toàn bộ. Nhưng tại cấp sơ thẩm ông H1 đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là không đúng, cần rút kinh nghiệm. Đáng lẽ khi nhận đơn khởi kiện đương sự thuộc diện miễn nộp tạm ứng án phí và án phí thì phải có biên bản thể hiện đương sự từ chối thì mới giới thiệu nộp tạm ứng án phí.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, 589 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Lê Văn H2.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 42/2018/DS-ST ngày 29-10-2018 của Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh Cà Mau về yêu cầu bồi thường thiệt hại của anh H2 đối với ông H1.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của anh Lê Văn H2 về yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản. Buộc ông Bùi Văn H1 có trách nhiệm thanh toán cho anh H2, chị T tiền mất thu nhập trong thời gian ông H1 giữ chiếc ghe với tổng số tiền là 7.600.000 đồng.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Văn H1 đối với anh Lê Văn H2 về việc yêu cầu trả tiền mua bán ghe biển.

Buộc anh H2 trả cho ông Bùi Văn H1, bà Trịnh Thị H số tiền mua ghe còn thiếu là 18.000.000 đồng và tiền lãi số tiền là 8.100.000 đồng. Tổng cộng 26.100.000 đồng (Hai mươi sáu triệu một trăm ngàn).

Trường hợp những người được thi hành án có đơn yêu cầu nếu những người có nghĩa vụ thi hành án mà chậm thanh toán các khoản tiền thuộc về trách nhiệm của mình thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

3. Về án phí:

- Án phí dân sự phúc thẩm: Anh H2 không phải chịu, đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0004041 ngày 09/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U, được nhận lại toàn bộ (do chị Nguyễn Thị T đứng tên nộp tiền).

- Án phí dân sự sơ thẩm:

Anh H2 phải chịu án phí tổng cộng 4.325.000 đồng. Đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm 1.800.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0012166 ngày 27/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U được khấu trừ, phải nộp tiếp 2.525.000 đồng. Anh H2 và chị T có trách nhiệm liên đới nộp.

Ông H1, bà H là được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí. Ông H1 đã nộp tạm ứng án phí 950.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0012086 ngày 06/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U được nhận lại toàn bộ.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


74
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2019/DS-PT ngày 21/02/2019 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

Số hiệu:23/2019/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/02/2019
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về