Bản án 23/2018/HS-ST ngày 27/07/2018 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 23/2018/HS-ST NGÀY 27/07/2018 VỀ TỘI TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Ngày 27 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2018/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Duy K - Sinh ngày 16 tháng 3 năm 1999; tại Đ - A; nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh A; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: (không rõ) và bà Lê Thị C; Bị cáo chưa có vợ và con; t iền án: Ngày 30/8/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (xảy ra ngày 02/3/2016), theo Bản án số 257/2016/HSST, đến ngày 27/3/2017 chấp hành xong hình phạt; Ngày 28/3/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (xảy ra ngày 27/3/2016), theo Bản án số 43/2017/HSST, đến ngày 27/10/2017 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2018 cho đến nay. (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Thái B - Sinh năm 1993

- Địa chỉ: Tổ 29, khóm T, phường V, thành phố N, tỉnh K. Tạm trú: Lô 32A, chung cư K26, đường D, phường 7, quận G, thành phố H. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 30/3/2018, lực lượng Công an huyện Đức Huệ tổ chức bắt giữ đối tượng tiêu thụ xe gian trên đường 838B, phát hiện Lê Duy K, đang điều khiển xe mô tô cò biểu hiện nghi v ấn nên tiến hành kiểm tra K khai nhận: Do gần nhà Đ nhà ở ấp M, xã M, huyện Đ tham gia tiêu thụ xe gian ở địa phương, nên K gặp và xin Đạt chạy xe mô tô do người khác phạm tội mà có cho Đ, nhưng Đ nói khi nào có xe sẽ gọ i.

Đến khoảng 04 giờ 00 phút ngày 30/3/2018, Đạt gọi điện thoại kêu K đi xuống cầu vượt Bình Phước (thành phố H) để nhận chạy 01 xe mô tô d o người khác phạm tội mà có về Đức Huệ, Đ sẽ trả công 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), K đồng ý nhưng chưa nhận tiền công, lúc này K đang chơi game bắn cá ở ấp 1, xã Q thì được một người chạy xe ôm do Đ kêu đến rước. Trên đường đi do trời mưa nên điện thoại của K bị ướt nên K ghé vào nhà để tháo sim và pin điện thoại để trên ván ở trong nhà, sau đó người xe ôm tiếp tục chở K đến cầu vượt Bình Phước (thành phố H). Đến nơi K đứng chờ khoảng 10 phút thì có một người đàn ông lạ mặt đến giao cho K một xe môtô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius . Sau đó K điều khiển xe mô tô vừa nhận về huyện Đức Huệ. Khi đến khu vực ấp M, xã M thì bị lực lượng Công an huyện Đức Huệ bắt quả tang cùng tang vật.

Tang vật tạm giữ:

- 01 xe mô tô (02 bánh) nhãn hiệu Yamha, loại Sirius, màu đen - trắng, số máy: 5C641014854, số khung: RLCS5C641DY015005, đã qua sử dụng, ổ khoá bị phá hỏng, cấm chìa khóa tạm.

Tại kết luận định giá tài sản số: 14 /KL-HĐĐG ngày 03 tháng 4 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đức Huệ, định giá trị chiếc xe nói trên là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Qua xác minh chủ sở hữu được xác định là ông Trần Thái B , trình bày: Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 29/3/2018, ông B đi làm về nhưng do quên dẫn xe vào nơi giữ xe của khu chung cư đang ở và vào nhà ngủ đến khoảng 07 giờ 00 phút ngày 30/3/2018 thì phát hiện xe mô tô của mình bị mất trộm . Sau đó ông B đến Công an phường 7, quận G, thành phố H trình báo sự việc.

Xử lý tang vật của cơ quan cảnh sát điều tra, trong quá trình điều tra xét thấy việc trả lại tài sản là vật chứng của vụ án cho người có liên quan là Trần Thái B là phù hợp, không ảnh hưởng đến các hoạt động điều tra tiếp theo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Huệ đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 18 ngày 05/4/2018, bằng hình thức trả chủ sở hữu . Sau khi nhận lại xe mô tô B không có yêu cầu gì khác nên không đề cập.

Trên cơ sở lời khai của bị cáo Lê Duy K, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành mời ông Võ Tấn Đạt, sinh năm 1986, thường trú ấp M , xã M, huyện Đ, tỉnh A để lấy lời khai nhưng ông Đ không thừa nhận đã thuê K vận chuyển xe do người khác phạm tội mà có vào ngày 30/3/2018. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành đối chất giữa bị cáo Lê Duy K và ông Võ Tấn Đạt nhưng không có kết quả nên không đề cập.

Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại 1202 đã qua sử dụng, màu xám - xanh do bà Lê Thị C giao nộp được xác định là của bị cáo Lê Duy K dùng để liên lạc khi thực hiện hành vi phạm tội, đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với người giao xe và người chạy xe ôm, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không mời làm việc được, không có tài liệu chứng cứ khác ngoài lời khai của bị cáo Lê Duy K, không có cơ sở chứng minh nên không đề cập.

Cáo trạng số: 24/CT-VKS-ĐH ngày 28 tháng 5 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Lê Duy K về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ sau khi phân tích tính chất của hành vi và hậu quả xảy ra, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Duy K phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Căn cứ: khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Duy K từ 12 đến 15 tháng tù.

Các biện pháp tư pháp: Phần Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên không đề cập xem xét.

Đối 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại 1202 đã qua sử dụng, màu xám - xanh, bị cáo sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan, ông Trần Thái B vắng mặt tại phiên toà, trong lời khai không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vào ngày 30/03/2018, ( khoảng 04 giờ) bị cáo Lê Duy K đã nhận lời vận chuyển và tiêu thụ xe gian - 01 xe mô tô (2 bánh) nhãn hiệu Yamha, loại Sirius, màu đen - trắng, số máy: 5C641014854, số khung: RLCS5C641DY015005 xe do người khác phạm tội mà có cho một người không rõ địa chỉ chỉ biết tên Đ từ cầu vượt Bình Phước (thành phố H) về ấp M, xã M, huyện Đ để tiêu thụ với giá tiền công vận chuyển là 500.000 đồng. Khi bị cáo K vận chuyển xe mô tô nói trên đến ấp M, xã M (trên đường tỉnh 838B) thì bị lực lượng chức năng bắt giữ người cùng tang vật. Qua định giá tài sản xe mô tô nói trên có giá trị là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

[2] Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của cơ quan cảnh sát điều tra và cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo điều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hành vi tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên điều thực hiện đúng và hợp pháp.

[3] Tại phiên toà, bị cáo Lê Duy K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang do công an huyện Đức Huệ lập lúc 10 giờ 00 phút ngày 30/03/2018, kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG, ngày 03/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Huệ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó đã có đủ bằng chứng để kết luận rằng bị cáo Lê Duy K phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự 2015. Như vậy, cáo trạng số 24/CT-VKS-ĐH ngày 28 tháng 5 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Lê Duy K với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở đúng theo quy định của pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo Lê Duy K là nguy hiểm cho xã hội, vì hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến trật tự công cộng và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà còn gây trở ngại cho công tác điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự, tạo điều kiện khuyến khích cho những người khác đi vào con đường phạm tội. Bị cáo biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi trên của bị cáo phải được xử lý nghiêm. Xét thấy bị cáo có 02 tiền án là đã hai lần bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nay bị cao quay lại phạm tội mới là tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự nên phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Xét thấy bị cáo Lê Duy K, thật thà khai báo, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan ông Trần Thái B vắng mặt tại phiên toà trong lời khai không yêu cầu nên không đề cặp xem xét. Nếu sau này có phát sinh yêu cầu bồi thường sẽ tách ra giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo Lê Duy K là có cơ sở theo quy định pháp luật.

[8] Về các biện pháp tư pháp: Phần Cơ quan điều tra đã xử lý xong không có yêu cầu xem xét lại nên không đề cập xem xét.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia l oại 1202 đã qua sử dụng, màu xám - xanh, bị cáo sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[9] Đối với những người giới thiệu, chủ thuê, người giao nhận xe cho bị cáo, không xác định được nhân thân, lai lịch, địa ch ỉ, không làm việc được. Cơ quan CSĐT tiếp tục thẩm tra, xác minh đề xuất xử lý sau, nên không đề cập xử lý trong vụ án này là phù hợp. Nhằm bỏ lọt tội phạm không được xử lý, kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh để xử lý sau theo quy định của pháp luật.

[10] Bị cáo Lê Duy K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 32, Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015; Các Điều 135, Điều 136, Điều 299 và Điều 326 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố bị cáo Lê Duy K phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

3. Xử phạt bị cáo Lê Duy K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/3/2018).

4. Về các biện pháp tư pháp: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại 1202 đã qua sử dụng, màu xám - xanh. 

Tang vật do chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý .

5. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Duy K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước.

6. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 27/7/2018). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được hoặc niêm yết.


79
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2018/HS-ST ngày 27/07/2018 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Số hiệu:23/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Huệ - Long An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/07/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về