Bản án 23/2018/HS-PT ngày 11/04/2018 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 23/2018/HS-PT NGÀY 11/04/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Trong ngày 11 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 16/2018/HSPT ngày 27 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Dương Văn H do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 15/2018/HSST ngày 19 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước.

Bị cáo có kháng cáo:

Dương Văn H, sinh ngày 30/6/1999 tại Bình Phước; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã C, huyện H, tỉnh Bình Phước; Nghề ngH: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Dương Văn H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1976; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/8/2017 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại có kháng cáo: Anh Giang Trung M, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ A1, ấp B1, xã C1, huyện H, tỉnh Bình Phước.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1976;

HKTT: Tổ A, ấp B, xã C, huyện H, tỉnh Bình Phước.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Bùi Đức N, Tô Đình L nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 28/8/2017 nhóm của Bờm rủ N đến khu vực 304 để giải quyết mâu thuẫn, khi đi N điều khiển xe mô tô chở Dương Văn H, Tô Đình L và mang theo hung khí là 03 con dao. Tuy nhiên khi đến nơi mâu thuẫn đã được giảng hòa xong nên N tiếp tục chở H và L đi đến khu vực chợ Tân Hưng để ăn tối. Khi đi đến khu vực trưởng THPT Trần Phú, N nảy sinh ý định đi tìm anh Giang Trung M, ngụ tại ấp 23 Nhỏ, xã Phước An, huyện H, tỉnh Bình Phước để đánh do trước đó anh M đánh mẹ của N, N nói với H, L : “cách đây vài tuần thằng M có đánh mẹ anh, hai đứa phụ với anh đi tìm thằng M để đánh” thì H và L đồng ý. Cả ba đi đến tiệm thuốc tây mua khẩu trang y tế rồi cùng nhau đi về nhà N, N vào nhà cất xe rồi lấy 03 cái đèn pin loại đội đầu, 01 bao thuốc lá hiệu Fasol, 01 hộp quẹt gas, N đưa cho H và L mỗi người một cái đèn pin đội lên đầu rồi cùng với L đi bộ đến lô cao su nơi anh M làm bảo vệ cách đó khoảng 01km tìm anh M để đánh.

Khi đến khu vực lô cao su thuộc tổ 1, nhóm 3, Nông trường cao su Lợi Hưng H đưa con dao cho N cầm, bật đèn pin cM sáng đi tìm anh M, còn N và L đi sau cách khoảng 05–07 hàng cây cao su. Khi đến gần H thấy anh Nam đang nằm trên võng một mình nên nói lớn “tao ở dưới đây,bắt được nhiều lắm nên không phải xuống nữa” đồng thời soi đèn pin cM sáng vào chiếc xe mô tô của anh Nam đang dựng kế bên, N nhìn thấy đó là xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đỏ, do N sinh sống gần khu vực lô cao su nên biết đó là xe của anh Nam nên N cùng với L chuyển hướng đi xuống lán chòi còn lại để tìm anh M đánh.

Khi N, L đi đến cách nơi anh M đang nằm võng khoảng 05 mét thì bị anh M phát hiện nên anh M cầm khúc cây đi về phía L thì bị N hai tay cầm hai con dao đuổi theo phía sau anh M, L bỏ chạy được khoảng 07 mét dừng lại dùng tay phải cầm 3 – 4 tô sành đựng mủ cao su ném về phía anh M nhưng không trúng, lúc này M bỏ chạy được khoảng 05m bị vấp ngã xuống đất nên N và L đuổi kịp, N dùng tay phải cầm dao chém 01 cái vào mông bên trái, còn L cầm dao bằng tay phải chém khoảng 3 – 4 cái trúng vào vai bên phải anh M, bị chém nên anh M vùng dậy bỏ chạy thì bị L tiếp tục đuổi theo dùng dao chém 01 cái trúng vào khuỷu tay phải, sau đó anh M bỏ chạy được nên N, L không đuổi theo nữa rồi đi về nhà. Cùng thời điểm này H nói chuyện với anh Nam xong thì đi tìm N, L nhưng không thấy, một lúc sau H nghe tiếng chó sủa ở phía dưới nên H biết rõ là N, L đã đánh anh M rồi H đi về nhà.

Khi anh M bỏ chạy được khoảng 60m quay lại nhìn về phía chòi thấy có lửa bốc lên ở phía lán chòi của M, một lúc sau anh M quay trở lại thấy xe mô tô nhãn hiệu Dalin biển kiểm soát 93F7 – 1751 dựng ở lán chòi cùng một số tài sản khác đã bị đốt cháy.

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 214/2017/TgT ngày 30/8/2017 của Trung tâm giám định y khoa – pháp y tỉnh Bình Phước kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của bị hại Giang Trung M là 11% .

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 510/KL-HĐĐGTTTHS ngày 30/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận, tổng giá trị tài sản bị hủy hoại là 2.690.000 đồng (hai triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2018/HSST ngày 19 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước quyết định:

[1] Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Đức N, Dương Văn H và Tô Đình L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm p khoản 1, 2 Điều 46, các Điều 20, 53, 33 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Dương Văn H 02 (hai) năm tù. Thời gian tính tù từ ngày 30/8/2017.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo Bùi Đức N, Tô Đình L, về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22 tháng 01 năm 2018, bị hại Giang Trung M kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Dương Văn H. Ngày 31/01/2018, bị cáo Dương Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Dương Văn H và bị hại Giang Trung M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại, sửa bản án sơ thẩm do: Tại phiên tòa phúc thẩm, mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị H2 xác nhận bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hính sự mới quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 cần xem xét cho bị cáo. Ngoài ra, cần sửa áp dụng pháp luật theo Bộ luật hình sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà Hội đồng xét xử Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Dương Văn H thừa nhận hành vi phạm tội như Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm nhận định. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, bị hại, người làm chứng, đồng thời phù hợp với Kết luận giám định pháp y cùng các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 28/8/2017, Dương Văn H cùng đồng phạm đã có hành vi dùng dao chém anh Giang Trung M gây thương tích 11%. Hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999.

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và dẫn chiếu Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 có khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm là thấp hơn khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm của khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 nên cần áp dụng khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cấp sơ thẩm áp dụng khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là có sai sót, nên cấp phúc thẩm khắc phục và nhắc nhở để cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm. Ngoài ra, cần sửa phần áp dụng pháp luật theo Bộ luật hình sự năm 2015 cho phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Dương Văn H và bị hại Giang Trung M, thấy rằng: Trong vụ án bị cáo Bùi Đức N và bị cáo Tô Đình L là người thực hành tích cực còn bị cáo Dương Văn H chỉ là đồng phạm giúp sức về tinh thần, bị cáo không phải là người trực tiếp gây thương tích cho bị hại Giang Trung M. Tòa cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo N 01 năm 04 tháng tù, bị cáo L 01 năm 04 tháng tù nhưng lại xét xử bị cáo H 02 năm tù là có phần nghiêm khắc đối với bị cáo H. Hơn nữa, tại phiên tòa phúc thẩm, mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị H2 xác nhận bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại được 2.000.000đ và bị hại cũng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 cần xem xét cho bị cáo.

[3] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên toà phúc thẩm là có căn cứ nên được chấp nhận.

[4] Án phí hình sự phúc thẩm, do kháng cáo của bị cáo và bị hại được chấp nhận nên bị cáo Dương Văn H không phải chịu.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Văn H và bị hại Giang Trung M về việc xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Dương Văn H.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 15/2018/HSST ngày 19 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước.

[2] Tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

[3] Áp dụng khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cao Dương Văn H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2017.

[4] Án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo Dương Văn H không phải chịu.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


64
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về