Bản án 230/2017/HNGĐ-ST ngày 28/09/2017 về ly hôn và nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 230/2017/HNGĐ-ST NGÀY 28/09/2017 VỀ LY HÔN VÀ NUÔI CON

Ngày 28 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 419/2017/TLST- HNGĐ ngày 14/7/2017 về việc “Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 371/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/9/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 274/2017/QĐST-HNGĐ ngày 18/9/2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trịnh Mai X, sinh năm 1990

Địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Trà Văn V, sinh năm 1989

Địa chỉ: Ấp 6, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa. Bị đơn vắng mặt không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 17/7/2017 và lời trình bày nguyên đơn tại phiên tòa, thể hiện: Vào năm 2010 chị X và anh V được hai bên gia đình tổ chức đám cưới với nhau theo lễ cưới theo truyền thống, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K vào ngày 02/4/2010. Thời kỳ chung sống giữa chị X và anh V có 01 con chung tên Trà Tiểu N, sinh 14/01/2011 (hiện nay chị X đang nuôi dạy).

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Nguyên nhân mâu  thuẫn: Do vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau, từ đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh V thường xuyên đánh đập chị X, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân đến nay đã hơn 03 tháng, gia đình 02 bên hàn gắn nhiều lần nhưng vợ chồng không có thiện chí hàn gắn trở lại.

Nay chị X yêu cầu được ly hôn với anh V. Yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Đối với bị đơn Trà Văn V: Tòa án đã triệu tập hợp lệ 02 lần để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và 02 lần để xét xử, nhưng anh V đều vắng mặt không rõ lý do, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh V.

Từ những nội dung vụ án thể hiện;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xéttại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về thẩm quyền của Tòa án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện T, nội dung tranh chấp là việc “ly hôn, nuôi con”, nên Tòa án nhân dân huyện T thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét về thủ tục: Tòa án đã tiến hành triệu tập anh V hợp lệ 02 lần để xét xử, nhưng anh V đều vắng mặt không rõ lý do. Nên Toà án căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt anh V.

[3] Xét về yêu cầu ly hôn: Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân tiến bộ là vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và sống chung với nhau; nhưng chị X và anh V không làm được điều đó mà lại thường xuyên cự cải với nhau và anh V còn đánh đập chị X, dẫn đến vợ chồng phải sống ly thân với nhau thời gian dài nhưng cả 02 bên đều không có thiện chí hàn gắn trở lại, tại phiên tòa chị X cương quyết ly hôn với anh V, do đó xác định chị X và anh V đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng dẫn đến cuộc sống hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận cho ly hôn giữa chị X và anh V là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

[4] Xét về con chung: Hội đồng xét xử xét thấy cháu N hiện nay đang được chị X nuôi dạy và chị X cũng đã nêu rõ điều kiện đảm bảo việc nuôi dạy cháu N trong việc học hành và việc trưởng thành của cháu N, nên cần giao cháu N cho chị X tiếp tục nuôi dạy là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Anh V có quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N, không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này và anh V phải tôn trọng quyền của cháu N được sống với chị X là phù hợp với Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Việc chị X không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện của chị X, nên cần Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Xét về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà chị X cho rằng giữa chị với anh V không có tài sản chung và nợ chung, nhưng tại phiên toà anh V vắng mặt không rõ lý do, nên chưa làm rõ được phần tài sản chung và nợ chung giữa chị X và anh V; do đó cần tách phần tài sản chung và nợ chung giữa chị X và anh V ra để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho anh V, khi nào anh V có yêu cầu xét thấy có căn cứ thì giải quyết bằng một vụ kiện khác.

[6] Xét về án phí: Chị X phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, chị X đã dự nộp tạm ứng án phí trước 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T được chuyển thu đối trừ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về nội dung:

- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Trịnh Mai X và Trà Văn V.

- Về con chung: Giao con chung tên Trà Tiểu N, sinh 14/01/2011 cho chị X trực tiếp nuôi dạy. Anh V có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N, không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này; anh V phải tôn trọng quyền của cháu N được sống với chị X.

2. Về án phí:

Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Chị X phải nộp 300.000 đồng, chị X đã dự nộp tạm ứng án phí trước 300.000 đồng theo biên lai số 0007170 ngày 14/7/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu đối trừ.

3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


159
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 230/2017/HNGĐ-ST ngày 28/09/2017 về ly hôn và nuôi con

Số hiệu:230/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:28/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về