Bản án 229/2017/DS-PT ngày 21/12/2017 về tranh chấp đòi lại tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 229/2017/DS-PT NGÀY 21/12/2017 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI LẠI TÀI SẢN

Ngày 21 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công Kh ai vụ án thụ lý số: 261/2017/TLPT-DS ngày 07 tháng 11 năm 2017 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 67/2017/DSST ngày 20 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 317/2017/QĐ-PT ngày 20 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Tô Tấn L, sinh năm 1976 (Có mặt) Địa chỉ: phường 5, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1969 (Có mặt) Địa chỉ: xã Đ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Tăng Kiều O, sinh năm 1972 (Có mặt). Địa chỉ: xã Đ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Kh – Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ông Tô Tấn L trình bày: Vào năm 2014 ông là chủ cửa hàng thức ăn thủy sản Tân Phương có bán các mặt hàng thức ăn thủy sản và loại thuốc, hóa chất thủy sản cho ông Kh nhiều lần và kéo dài đến năm 2016 thì tổng số tiền là 170.866.070 đồng (Một trăm bảy mươi triệu tám trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi đồng). Việc giao dịch mua bán các loại mặt hàng nêu trên với hình thức đầu tư cuối vụ thu hoạch tôm thì thanh toán dứt điểm. Đến ngày 09/9/2016 thì ông Kh có thanh toán cho ông được số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), ông Kh có ký vào giấy theo dõi công nợ khách hàng số tiền là 70.866.070 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi đồng), ông Kh hứa làm vụ tới sẽ trả tiền nhưng đến nay ông Kh không trả. Nay ông yêu cầu ông Kh trả cho ông số tiền là 70.866.070 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi đồng).

Ông Nguyễn Văn Kh trình bày: ông Kh thừa nhận từ năm 2014 cho đến năm 2016 ông có mua thức ăn tôm thẻ chân trắng, thuốc và hóa chất của ông L tổng số tiền là 170.866.070 đồng (Một trăm bảy mươi triệu tám trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi đồng). Đến ngày 09/9/2016 ông có trả cho ông L số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), ông thừa nhận có ký nhận nợ ông L ngày 09/9/2016 số tiền còn lại là 70.866.070 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi đồng), ông L hứa sẽ tiếp tục bán thức ăn nhưng từ khi ông trả được số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) thì ông L cắt giao dịch mua bán thức ăn với ông nên ông phải ra bên ngoài để mua thức ăn nuôi tiếp, đến khi ông lên vụ nuôi tiếp theo thì ông trả cho ông L 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) nhưng ông L không chịu nhận, sau đó ông L có yêu cầu đến chính quyền địa phương hòa giải, ông có yêu cầu ông L tiếp tục bán thức ăn cho ông thì ông sẽ thanh toán số tiền còn lại nhưng ông L không chịu bán tiếp, chính quyền địa phương động viên cho ông L thu lại 50% của số tiền 70.866.070 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi đồng), còn lại là 39.330.350 đồng (Ba mươi chín triệu, ba trăm ba mươi ba ngàn, ba trăm năm mươi đồng), ông L yêu cầu ông trả số tiền là 70.866.070 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi đồng), ông không đồng ý. Nay ông yêu cầu ông L tiếp tục giao các mặt hàng thức ăn thủy sản để ông nuôi các vụ tôm tiếp theo có lời thì ông trả số tiền cho ông L. Nếu ông L không tiếp tục giao thức ăn thủy sản nữa thì ông không đồng ý trả số tiền nêu trên.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 67/2017/DSST ngày 20/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện C đã quyết định:

Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 146, 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 332, 357, 430, 440 Bộ luật dân sự; Điều 48, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 27 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ông Tô Tấn L đối với Ông Nguyễn Văn Kh và Bà Tăng Kiều O.

Buộc Ông Nguyễn Văn Kh và Bà Tăng Kiều O phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ông Tô Tấn L số tiền là 70.866.070 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi đồng).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 20 tháng 10 năm 2017, Ông Nguyễn Văn Kh kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm với lý do: Cha của ông qua đời ông xin hoãn, mới tống đạt 01 lần, ông Kh ông đồng ý trả số tiền 70.866.070 đồng, án phí, phí phải trả lãi.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Kh giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng, các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định; Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Kh óa, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Xét kháng cáo của Ông Nguyễn Văn Kh yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét về thủ tục tố tụng, ông cho rằng do cha của ông qua đời nên ông xin hoãn thì mới tống đạt 01 lần mà Tòa sơ thẩm đưa ra xét xử ông Kh ông đồng ý. Hội đồng xét xử thấy rằng, ông Kh nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 25/7/2017 nhưng ông có đơn xin hoãn phiên tòa lý do cha ông bệnh; đến ngày 22/8/2017 ông lại xin hoãn phiên tòa vì cha ông chết, tại giấy trích lục khai tử ông Kh cung cấp ngày 22/8/2017 (BL 62) thể hiện cha ông chết ngày 20/8/2017 thì cùng ngày ông Kh nhận quyết định hoãn phiên tòa ngày 22/8/2017 và giấy triệu tập xét xử vào ngày 20/9/2017 (BL 66, 67) nhưng ông vẫn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa ông Kh thừa nhận có nhận các giấy tờ trên. Từ đó, cấp sơ thẩm căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Khóa, bà Oanh là đúng quy định.

[2] Đối với kháng cáo của ông Kh về việc không đồng ý trả số tiền 70.866.070 đồng cho ông L, cũng không đồng ý đóng án phí và phí phải trả lãi.

Xét thấy, ông Kh thừa nhận có mua thức ăn tôm của ông L từ năm 2014 đến 2016 và thiếu lại số tiền như ông L trình bày là đúng, ông có ký vào giấy theo dõi công nợ khách hàng số tiền 70.866.070 đồng vào ngày 09/9/2016 (BL 38) nhưng ông Kh cho rằng ông L hứa sau khi ông trả được 100.000.000 đồng chỉ còn nợ số tiền trên thì ông L sẽ tiếp tục bán thức ăn nuôi tôm cho ông mà ông L không thực hiện nên ông phải mua chỗ khác nuôi tiếp. Khi lên vụ ông đến trả cho ông L 10.000.000 đồng ông L cũng không nhận mà thưa ông ra chính quyền, nay nếu ông L tiếp tục bán thức ăn nuôi tôm cho ông, có lời thì ông thanh toán tiếp số tiền còn lại, nếu không thì ông không đồng ý trả. Tuy nhiên, ông L không thừa nhận có hứa sau khi ông Kh trả 100.000.000 đồng thì ông bán tiếp, ông Kh không có gì chứng minh, trong khi ông thừa nhận còn nợ lại số tiền trên và do khoản tiền trên là khoản nợ trong thời kỳ hôn nhân của ông và Bà Tăng Kiều O, ông xác định sử dụng vào nhu cầu chung của gia đình nên cấp sơ thẩm buộc ông và bà Oanh có trách nhiệm trả số tiền 70.866.070 đồng cho ông L là có cơ sở. Hơn nữa, bà Oanh cũng không có kháng cáo là đương nhiên chấp nhận khoản nợ này nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Khóa.

[3] Do việc ông L kiện ông Kh có cơ sở nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông L , buộc ông Khóa, bà Oanh phải chịu án phí và lãi suất chậm thi hành là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do cách tuyên về lãi suất chậm thi hành án của cấp sơ thẩm quá vắn tắt nên cần phải điều chỉnh lại cho đúng quy định.

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm ông Kh không đưa ra được tài liệu chứng cứ gì khác hơn để bảo vệ cho yêu cầu kháng cáo của ông nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có sơ sở chấp nhận, cần giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm, do không chấp nhận kháng cáo của ông Kh nên ông Kh phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định, ông Kh đã dự nộp được chuyển thu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ông Nguyễn Văn Kh.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 67/2017/DSST ngày 20/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ông Tô Tấn L đối với Ông Nguyễn Văn Kh và Bà Tăng Kiều O.

Buộc Ông Nguyễn Văn Kh và Bà Tăng Kiều O phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ông Tô Tấn L số tiền là 70.866.070 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc Ông Nguyễn Văn Kh và Bà Tăng Kiều O phải chịu số tiền là 3.543.000 đồng (chưa nộp). ông L không phải chịu, ngày 08/3/2017 ông L đã dự nộp là 1.771.000 đồng theo biên lai thu số 0011085 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước được nhận lại.

Án phí dân sự phúc thẩm: ông Kh phải chịu 300.000 đồng, ngày 20 tháng 10 năm 2017 ông Kh đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0003899 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước được chuyển thu.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


162
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 229/2017/DS-PT ngày 21/12/2017 về tranh chấp đòi lại tài sản

Số hiệu:229/2017/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/12/2017
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về