Bản án 227/2017/HSST ngày 14/07/2017 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 227/2017/HSST NGÀY 14/07/2017 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 14 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 153/2017/HSST ngày 02/6/2017, đối với bị cáo:

Giang Hùng A; sinh ngày: 26/7/1990; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; thường trú: đường V, phường A, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: Làm vườn; con ông: Giang Tuấn S; và bà: Huỳnh Thị H; chưa có vợ con; tiền án Ngày 14/01/2016, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 09/2016/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/7/2016), tiền sự: không; bị bắt giữ ngày 21/01/2017. (Có mặt)

- Người bị hại: Chị Phạm Thị Bích H, sinh năm 1970, địa chỉ: đường N, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Đình L, sinh năm 1965. (Vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Tân H, sinh năm 1995. (Vắng mặt)

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 6 giờ 30 phút ngày 21/01/2017, Giang Hùng A điều khiển xe mô tô biển số 59G2-157.69 của A chở người tên Hói (không rõ lai lịch) là bạn quen biết ngoài xã hội, từ Quận 12 đến quận Thủ Đức để uống cà phê. Khi Hùng A và Hói đang lưu thông trên đường số 10, phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì Hói phát hiện chị Phạm Thị Bích H điều khiển xe mô tô biển số 60S1-6639 một mình lưu thông ngược chiều, trên cổ chị H có đeo 01 sợi dây chuyền trọng lượng 0,88 chỉ vàng 18K. Đối tượng Hói rủ Giang Hùng A giật dây chuyền của chị H bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì Giang Hùng A đồng ý. Lập tức, Giang Hùng A liền điều khiển xe mô tô chở Hói quay lại đuổi theo xe mô tô của chị H. Đến khoảng 7 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến trước nhà số 13/4, đường số 10, khu phố 2, phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì Giang Hùng A điều khiển xe mô tô ép vào bên trái xe của chị H, Hói ngồi sau xe dùng tay phải giật sợi dây chuyền chị H đang đeo trên cổ. Bất ngờ bị giật tài sản, chị H truy hô “Cướp, cướp”, thì đối tượng Hói thả sợi dây chuyền và Giang Hùng A tăng ga điều khiển xe mô tô biển số 59G2-157.69 chở Hói tẩu thoát. Lúc này anh Nguyễn Đình L đang điều khiển xe mô tô lưu thông chiều ngược lại, nhìn thấy sự việc, liền tông xe đụng vào xe mô tô của Giang Hùng A làm A và Hói ngã xuống đường. Anh L cùng anh Nguyễn Tân H ở gần đó và quần chúng khác đến khống chế bắt giữ Giang Hùng A, giao cho Công an Phường Hiệp Bình Phước lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ vật chứng, còn đối tượng tên Hói chạy bộ tẩu thoát. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức, Giang Hùng A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.(BL:31-34;38-39).

- Tại bản Kết luận định giá tài sản số 269/UBND-TCKH ngày 12/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thủ Đức kết luận: 01 sợi dây chuyền có mặt hình cây thánh giá, trọng lượng 0,88 chỉ vàng 18K, có trị giá tại thời điểm định giá là 2.276.560 đồng.

Vật chứng vụ án:

- 01 sợi dây chuyền có mặt hình cây thánh giá, trọng lượng 0,88 chỉ vàng 18K. Ngày 21/01/2017, Công an phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức đã trả cho chị Phạm Thị Bích H là chủ sở hữu.

- 01 xe mô tô biển số 59G2-157.69, số máy: 1033562, số khung: 020135. Kết quả xác minh, xe do Giang Hùng A đứng tên sở hữu.

- 01 điện thoại di động Iphone 5 màu trắng (của Giang Hùng A). Phần dân sự: Chị Phạm Thị Bích H không yêu cầu bồi thường (BL:25).

Tại bản Cáo trạng số 186/CT-VKS ngày 29/5/2017, Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức đã truy tố bị cáo Giang Hùng A về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa, bị cáo Giang Hùng A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội “Cướp giật tài sản”; áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự cùng các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù; phần dân sự đã giải quyết xong, tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc xe mô tô biển số 59G2-157.69, trả cho bị cáo 01 điện thoại di động Iphone 5.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo Giang Hùng A phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định bị cáo A đã có hành vi cướp giật tài sản của người bị hại chị Phạm Thị Bích H. Tài sản chiếm đoạt là 01 sợi dây chuyền có mặt hình cây thánh giá, trọng lượng 0,88 chỉ vàng 18K, trị giá 2.276.560 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Giang Hùng A đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định, trừng trị tại Điều 136 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì động cơ vụ lợi, đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, thể hiện bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật của Nhà nước. Tính nguy hiểm của hành vi bị cáo thực hiện còn thể hiện ở việc bị cáo sử dụng thủ đoạn nguy hiểm, dùng xe gắn máy có phân khối lớn để cướp giật tài sản của người bị hại đang điều khiển xe trên đường, hành vi này có khả năng gây nguy hiểm cho người bị hại và những người khác lưu thông trên đường, đây là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội có đồng phạm, trong đó bị cáo là người thực hành, chở đồng bọn ép sát để đồng bọn giật tài sản. Về nhân thân, bị cáo đã có một tiền án, chưa được xóa án lại tiếp tục phạm tội, thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xử lý bị cáo với mức án nghiêm phù hợp với tính chất, hành vi, mức độ phạm tội, vai trò và nhân thân của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa.

Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả cho người bị hại, phạm tội gây thiệt hại không lớn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Phạm Thị Bích H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô biển số 59G2-157.69, số máy: 1033562, số khung: 020135. Kết quả xác minh, xe do Giang Hùng A đứng tên sở hữu. Xét thấy bị cáo sử dụng xe bị cáo làm phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung quỹ chiếc xe. 01 điện thoại di động Iphone 5 màu trắng của bị cáo A, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo Giang Hùng A phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136, điểm g khoản 1 Điều 48, điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; Xử phạt:  Bị cáo Giang Hùng A 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/01/2017.

- Áp dụng điểm a, b, khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự,

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Honda biển số 59G2-157.69, số máy: 1033562, số khung: 020135.

+ Trả cho bị cáo Giang Hùng A: 01 điện thoại di động Iphone 5 màu trắng.

(Phiếu nhập kho số 150 và 151 ngày 12/7/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức)

Bị cáo chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án; riêng người bị hại vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.


124
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 227/2017/HSST ngày 14/07/2017 về tội cướp giật tài sản

      Số hiệu:227/2017/HSST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức - Hồ Chí Minh
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:14/07/2017
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về