Bản án 227/2017/HSST ngày 06/07/2017 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 227/2017/HSST NGÀY 06/07/2017 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Trong ngày 06 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 291/2017/HSST ngày 31/5/2017 đối với:

- Bị cáo:

Nguyễn Đặng Quang V, giới tính: nam; sinh năm: 1977 tại Tiền Giang; trú tại: khu phố A, Phường B, thành phố C, tỉnh Tiền Giang; chỗ ở: ấp D, xã Đ, huyện E, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: bán vé số; con ông G (chết) và bà H; hoàn cảnh gia đình: bị cáo không có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/01/2016 (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bị hại: Bà Ngô Thị D Thường trú: ấp D1, xã Đ1, huyện E1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở: ấp D2, xã Đ2, huyện E2, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hà Ngọc T, là Luật sư của Văn phòng luật sư H, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt tại phiên tòa).

NHẬN THẤY

Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thì nội dung vụ án được xác định như sau:

Ngày 13/01/2016, Nguyễn Đặng Quang V mượn số tiền 8.400.000 đồng (không có giấy tờ, không có lãi suất) của bà Huỳnh Thị N để dùng làm chi tiêu sinh hoạt hàng ngày và thống nhất trả góp 100.000 đồng/ngày cho đến khi hết số nợ nêu trên.

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 14/01/2016, V đang đi bộ bán vé số thì bị bà N gọi điện thoại đòi nợ, nhưng V chưa có tiền để trả. Bà N đi tìm và gặp V trên đường Phan Văn Đối, huyện Bình Chánh, bà N yêu cầu V trả tiền, nếu không có tiền thì phải trả bằng 10 tờ vé số thì V nói xin thiếu nhưng bà N không đồng ý dẫn đến hai bên cự cãi. V đã dùng tay đánh 03 cái trúng vào mặt, ngực và vai trái của bà N (không gây thương tích). Sau đó, V đưa cho bà N 20 tờ vé số với trị giá là 200.000 đồng. Bà N nhận vé số rồi bỏ đi, còn V thì đi bộ về phòng trọ của mình. Khi bà N về đến gần phòng trọ của V thì gặp bà Ngô Thị D và nói cho bà D biết sự việc bà N bị V đánh, rồi bà N cùng bà D đến dãy phòng trọ của V để nói chuyện. Khi đến nơi, bà D nói to tiếng kêu V ra ngoài phòng trọ để nói chuyện. Lúc này, V cũng vừa về đến phòng trọ thì bị bà D chửi mắng. V không nói gì mà đi thẳng vào phòng trọ số 5 (là nơi V đang thuê trọ) lấy một con dao Thái Lan (dài khoảng 20cm, cán nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại, mũi nhọn, dài khoảng 10 cm), V đi ra đứng đối diện với bà D, cầm dao bằng tay trái đâm một nhát trúng vào cổ của bà D làm gãy cán dao, lưỡi dao ghim chặt trên cổ trái của bà D, rồi V vứt dao xuống đất, bỏ chạy vào phòng trọ, còn bà D được bà N đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện 115. Ngày 18/01/2016, V bị bắt và đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 55/Tg.T.16 ngày 29/01/2016 kết luận thương tích của Ngô Thị D như sau:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vết thương cổ trái gây thủng đứt cơ và nhiều nhánh mạch máu tại cổ trái, choáng do mất máu, có dị vật là lưỡi dao cắm sâu vào cột sống cổ, tổn thương đám rối cổ, đã được phẫu thuật lấy lưỡi dao, nhét surgical cầm máu, vết thương cột sống, khâu cột cầm máu, khâu vết thương, hiện còn:

+ Vết thương còn chỉ khâu tại cổ trái kích thước 7x0,15cm.

+ Hạn chế vận động khớp vai trái nhiều.

Thương tích do vật sắc, nhọn gây ra, rất nguy hiểm đến tính mạng của đương sự.

1. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 30%”.

* Vật chứng gồm:

- 01 cán dao bằng nhựa màu vàng, dài khoảng 10cm (thu tại hiện trường).

- 01 lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 10cm (thu tại Bệnh viện 115).

*Về dân sự:

- Trong quá trình bà Ngô Thị D không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng trong quá trình chuẩn bị xét xử thì D có đơn xin xét xử vắng mặt đồng thời yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền viện phí là 30.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 124/CT-VKS-P2 ngày 15/02/2017 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Đặng Quang V về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đặng Quang V đã khai nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố và cho rằng cáo trạng truy tố về tội “Giết người” như vậy là đúng, nhưng xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích các tình tiết, chứng cứ của vụ án đã giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo mức án từ 10 năm đến 12 năm tù và xử lý vật chứng theo quy định.

Tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Luật sư không đồng ý với tội danh và khung hình phạt truy tố bị cáo V vì bị cáo V chỉ nhất thời phạm tội chứ không có dự mưu trước; bị cáo V cũng không có chủ đích đâm vào vị trí nào mà chỉ cầm dao đâm đại vào người bị hại; đồng thời, người bị hại cũng có lỗi khi lớn tiếng chửi mắng bị cáo và kích động người khác đánh bị cáo. Với hành vi, ý thức chủ quan của bị cáo và lỗi của người bị hại có thể xác định bị cáo V không phạm tội “Giết người” mà hành vi của bị cáo V chỉ cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự, từ đó Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và tuyên phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, luật sư và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY

Căn cứ vào các Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định pháp y của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, lời khai của người bị hại, người làm chứng, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, tại phiên tòa hôm nay và các chứng khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận:

Trước ngày 14/01/2016, Nguyễn Đặng Quang V có vay của bà Huỳnh Thị N số tiền 8.400.000 đồng và thống nhất trả góp 100.000 đồng/ngày cho đến khi hết số nợ.

Do 02 ngày V không trả góp tiền nên vào khoảng 19 giờ ngày 14/01/2016, V đang đi bộ bán vé số thì bà N gọi điện thoại cho V yêu cầu trả nợ. Nhưng V chưa có tiền để trả và đang đi bán vé số, nên bà N đi tìm và gặp V trên đường Phan Văn Đối, huyện Bình Chánh. Tại đây, bà N yêu cầu V trả tiền, nếu không có tiền thì phải trả bằng vé số, V nói xin thiếu thì N không đồng ý dẫn đến hai bên cự cãi, V dùng tay đánh 03 cái trúng mặt, ngực, vai trái của N (không gây thương tích). Sau đó, V đồng ý cho bà N lấy 20 tờ vé số trị giá 200.000 đồng để trừ vào số tiền 02 ngày trả góp còn thiếu.

Tiếp sau đó V đi bộ về phòng trọ của mình (Phòng trọ số 5, địa chỉ ấp D, xã Đ, huyện E). Về phía bà Nhự sau khi nhận được 20 tờ vé số thì gặp bà Ngô Thị D (bạn của N) và nói cho bà D biết sự việc bị V đánh, rồi cùng bà D đến dãy phòng trọ của V để nói chuyện. Khi đến nơi, bà D nói to tiếng kêu V ra ngoài phòng trọ để nói chuyện, và lúc này, V cũng vừa về phòng trọ thì bị bà D chửi mắng, V đã đi vào phòng trọ số 5, lấy một con dao Thái Lan (dài khoảng 20cm, cán nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại, mũi nhọn, dài khoảng 10 cm) rồi đi ra, cầm dao bằng tay trái đâm một nhát trúng cổ, làm gãy cán dao, lưỡi dao ghim chặt trên cổ trái của bà D, rồi V vứt cán dao xuống đất, bỏ chạy vào phòng trọ, còn bà D được bà N đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện 115 điều trị đến ngày 24/01/2016 thì xuất viện.

Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích của bà Ngô Thị D kết luận: Vết thương cổ trái gây thủng đứt cơ và nhiều nhánh mạch máu tại cổ trái; thương tích do vật sắc, nhọn gây ra, rất nguy hiểm đến tính mạng của đương sự; tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 30%.

Hành vi của bị cáo sau khi bị người bị hại chửi mắng thì bị cáo đã dùng một con dao mũi nhọn (kích thước như đã nêu ở trên) đâm vào vùng cổ của người bị hại, là phần trọng yếu của cơ thể con người, có thể dẫn đến hậu quả chết người. Bị cáo đã thực hiện hành vi đâm vào cổ với một lực rất mạnh, làm gãy cán dao còn lưỡi dao ghim chặt trên cổ của người bị hại, rồi bị cáo vứt cán dao lại hiện trường và chạy vào phòng trọ số 5. Về phía người bị hại do được cấp cứu kịp thời nên bị tổn thương cơ thể với tỉ lệ là 30%.

Mặc dù tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với người bị hại chỉ là 30% nhưng thông qua hành vi bị cáo đã dùng dao nhọn đâm một nhát với lực rất mạnh làm gãy cán dao, lưỡi dao ghim chặt vào cổ người bị hại, và khi không còn hung khí nguy hiểm trên tay thì bị cáo bỏ chạy về phòng trọ, đồng thời thông qua kết luận giám định đã xác định “Thương tích do vật sắc, nhọn gây ra, rất nguy hiểm đến tính mạng của đương sự”, từ đó cho thấy ý thức của bị cáo cố ý tước đoạt mạng sống của người bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Đặng Quang V đã phạm vào tội “Giết người”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 93 của Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009.

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm hại đến tính mạng con người được pháp luật đặc biệt bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Hành vi này đã cho thấy ý thức của bị cáo coi thường pháp luật, coi thường tính mạng con người, chỉ vì nguyên cớ nhỏ nhặt mà phạm tội nên thuộc trường hợp phạm tội có tính chất côn đồ, là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 nên cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên thực tế người bị hại không chết, chỉ bị tổn thương cơ thể là 30% nên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, do đó cần áp dụng Điều 52 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Ngoài ra, khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, cụ thể là: bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo; tại phiên tòa bị cáo rất ăn năn hối cải; bị cáo có trình độ học vấn thấp, người bị hại cũng có một phần lỗi khi đã chửi mắng to tiếng đối với bị cáo và bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Trong vụ án này bị cáo V có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự nên có cơ sở áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, phòng ngừa và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi cũng như hậu quả đã xảy ra.

Xét thấy mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo như đã phân tích ở trên, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức giáo dục, răn đe.

Lập luận trên đây cũng là căn cứ để chấp nhận lời luận tội của Kiểm sát viên và một phần lời trình bày của Luật sư tại phiên tòa.

* Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa hôm nay, người bị hại là bà Ngô Thị D xin vắng mặt, trong giai đoạn điều tra bà D không có yêu cầu bồi thường nhưng trước khi mở phiên tòa bà D có đơn yêu cầu bị cáo bồi thường cho bà số tiền viện phí là 30.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đồng ý với yêu cầu này của bà D, xét thấy việc bị cáo đồng ý bồi thường như trên là có cơ sở, nghĩ nên chấp nhận. Tình tiết này cũng thể hiện thái độ rất ăn năn hối cải của bị cáo V.

* Về vật chứng vụ án: là 01 cái cán dao và 01 cái lưỡi dao không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

* Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

* Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đặng Quang V phạm tội “Giết người”.

- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009;

Xử phạt: Nguyễn Đặng Quang V 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2016.

- Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Buộc Nguyễn Đặng Quang V phải bồi thường cho bà Ngô Thị D số tiền viện phí là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), thi hành ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật nếu bị cáo chưa thanh toán số tiền như quyết định ở trên thì thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

- Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Tịch thu tiêu hủy:

- 01 cái lưỡi dao kim loại dài khoảng 12cm;

- 01 cái cán dao màu vàng dài khoảng 10 cm.

(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 409/16 ngày 15/9/2016 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

- Áp dụng Điều 98 và Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

+ Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

+ Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Áp dụng khoản 1 Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003;

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản sao bản án.


97
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 227/2017/HSST ngày 06/07/2017 về tội giết người

Số hiệu:227/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:06/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về