Bản án 227/2017/HSPT ngày 14/11/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 227/2017/HSPT NGÀY 14/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 14/11/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 198/2017/HSPT ngày 06/10/2017 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2017/HSST ngày 26/8/2017 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Ngọc Q (Tý), sinh năm 1982; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước đây: Tổ 58A phường H (nay là tổ 41), quận H, thành phố Đà Nẵng (đã xóa đăng ký hộ khẩu từ tháng 9/2003), hiện không có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú; Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú nhất định; Trình độ văn hóa: 02/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Con ông Nguyễn Ngọc T(c) và bà Trần Thị Hoa; có vợ là Nguyễn Thu N (đã ly hôn); sống chung như với chồng với Nguyễn Thị P; Có 02 con, con lớn sinh năm 2002 (con chung với Nguyễn Thu N) và con nhỏ sinh năm 2004 (con chung với Nguyễn Thị P); Tiền sự: Chưa.

Tiền án: Ngày 29/9/2014 bị Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xử phạt 36 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2016.

Nhân thân: Ngày 18/6/2012 bị Công an quận Ngũ Hành Sơn đưa đi cai nghiện bắt buộc về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt ngày 10/3/2017; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 10/3/2017, Nguyễn Ngọc Q gọi điện cho người thanh niên tên Nam (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 01 gói ma túy với giá 3.200.000 đồng về sử dụng, Nam đồng ý bán và hẹn Q đến trước khu vực nhà nghỉ Sang Sang ở đường Đinh Công Trứ, phường Thọ Q, quận Sơn Trà để bán. Sau khi mua được ma túy, Q đến nhà bạn là Phạm Văn H rồi cùng H, Mai Thanh X, Mai Văn N sử dụng ma túy. Đến 20 giờ cùng ngày, tại nhà của H, tổ tuần tra phòng chống tội phạm ma túy Đồn biên phòng Sơn Trà tuần tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Ngọc Q đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và tiến hành thu giữ trong túi quần bên phải của Q 01 gói nylong bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1), theo Q khai là ma túy tổng hợp.

Tại bản kết luận giám định số 183/GĐ-MT ngày 13/3/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Đà Nẵng kết luận chất tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu M1 có chứa chất ma túy loại Methamphetamine, trọng lượng 4,964 gam. Tại bản kết luận giám định số 483/C54 ngày 24/7/2017 của Phân viện khoa học hình sự - Bộ công an tại Đà Nẵng kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong mẫu ký kiệu M1 là ma túy, loại Methamphetamine.

Tại Bản án sơ thẩm số 74/2017/HSST ngày 26/8/2017 Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46; Điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017.

Xử phạt: Nguyễn Ngọc Q 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 10/3/2017.

Ngoài ra, Bản án còn quyết định về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án.

Ngày 03/9/2017 bị cáo Nguyễn Ngọc Q có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 05 năm tù là nặng - xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có quan điểm cho rằng: Nguyễn Ngọc Q có hành vi tàng trữ trái phép 4,964 gam ma túy loại Methamphetamine, nhằm mục đích để sử dụng. Do đó Bản án sơ thẩm số 74/2017/HSST ngày 26/8/2017 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội. Bản án sơ thẩm đã xem xét mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng, xử phạt bị cáo mức án 05 năm tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm và thừa nhận Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Bị cáo chỉ xin xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt và bổ sung kháng cáo xin giảm hình phạt tiền bổ sung.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Ngọc Q trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các kết luận giám định cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định Bản án sơ thẩm số 74/2017/HSST ngày 26/8/2017 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà đã xét xử bị cáo Nguyễn Ngọc Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hính phạt của bị cáo Nguyễn Ngọc Q thì thấy: Bị cáo nhận thức được tác hại của các chất ma túy đối với sức khỏe, trí lực của con người nhưng bị cáo vẫn bất chấp tàng trữ trái phép 4,964 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chích sách quản lý độc quyền về cách chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hướng xấu đến trật tự, trị an xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Do đó đối với bị cáo cần xử phạt thỏa đáng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tuy nhiên xét thấy mức án 05 năm tù mà Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Đối với yêu cầu xin giảm hình phạt tiền bổ sung của bị cáo. Do sau khi xét xử sơ thẩm phần quyết định hình phạt bổ sung cũng như các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu này của bị cáo.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc Q, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46; Điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7; Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Nguyễn Ngọc Q 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 10/3/2017.

2. Về án phí: Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo khác, về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo của bản án không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


93
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về