Bản án 22/2019/HS-ST ngày 20/03/2019 về tội trộm cắp tài sản

 TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 22/2019/HS-ST NGÀY 20/03/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 20 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2019/TLST-HS, ngày 22 tháng 02 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2019/QĐXXST-HS, ngày 06/3/2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Đức N, sinh ngày 11/03/2001 tại tỉnh Tuyên Quang; trú tại: Xóm 17, xã KP, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Cao Lan; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 06/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lý Văn D, sinh năm 1976 và con bà Bàn Thị H, sinh năm 1979; vợ, con: chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Quyết định xử phạt VPHC số 14/QĐ-XPVPHC ngày 27/4/2017 của Công an huyện LB, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Lý Đức N về hành vi Trộm cắp tài sản hình thức phạt: Cảnh cáo.

Nhân thân:

- Quyết định xử phạt VPHC số 03/QĐ-XPHC ngày 30/5/2016 của Công an xã KP, huyện Yên Sơn xử phạt Lý Đức N về hành vi Trộm cắp tài sản hình thức phạt: Cảnh cáo.

- Quyết định xử phạt VPHC số 04/QĐ-XPHC ngày 29/7/2016 của Công an xã KP, huyện Yên Sơn xử phạt Lý Đức N về hành vi Trộm cắp tài sản hình thức phạt: Cảnh cáo.

- Quyết định số 47a/QĐ-UBND ngày 08/9/2016 của UBND xã KP, huyện Yên Sơn v/v áp dụng biện pháp giáo dục cấp xã đối với Lý Đức N từ ngày 08/9/2016 đến ngày 08/12/2016.

- Bản án số 121/2018/HS-ST ngày 30/10/2018, của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Lý Đức N 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (phạm tội ngày 30/5/2017).

Bị cáo hiện đang chấp hành án trại Trại giam Quyết Tiến thuộc Cục C10 Bộ Công an theo Bản án số 121/2018/HS-ST ngày 30/10/2018, của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang; có mặt tại phiên toà.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Anh Lý Văn D, sinh năm 1975. Trú tại: Xóm 17, xã Kim Phú, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Ông Tống Văn H, sinh năm 1954; Trú tại: Xóm 11, xã KP, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ ngày 02/8/2017, Lý Đức N sinh ngày 11/3/2001 (tại thời điểm phạm tội N 16 tuổi 04 tháng 22 ngày) trú tại xóm 17, xã KP, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản) đi bộ đến khu vực chợ GT thì quan sát thấy gia đình ông Tống Văn H trú tại xóm 11, xã KP, huyện Yên Sơn khóa cửa bên ngoài. Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của nhà ông H. N đi ra phía sau nhà, qua sát thấy cạnh sườn trái phía sau nhà có cây khế to. N trèo lên cây khế rồi trèo sang mái bờ rô xi măng lên sân phơi tầng hai, sau đó chui qua ô thoáng cửa có kích thước (0,8 x 0,25)m vào trong nhà ông H. Khi vào trong N đi theo cầu thang xuống tầng một, quan sát thấy bàn thờ thần tài đặt tại góc phòng khách của gia đình ông H có nhiều tiền lẻ N liền trộm cắp rồi đút vào túi quần, sau đó đi ra đầu cầu thang thấy 01 túi xách có dây đeo màu đen N mở túi trộm cắp được toàn bộ số tiền đựng trong túi xách. Sau đó N theo lối cũ thoát ra ngoài và đếm số tiền vừa trộm cắp được tổng cộng là 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng). Số tiền trên N đã chi tiêu cá nhân hết. Khoảng 11 giờ cùng ngày, ông H về nhà, phát hiện mất tiền, ông H đã đến trình báo cơ quan công an.

Quá trình điều tra Lý Đức N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 24/QĐ-KSĐT ngày 22 tháng 02 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lý Đức N phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56; Điều 91; Điều 101; Điều 104 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 121/2018/HS-ST, ngày 30/10/2018 của Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang. Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án tại Bản án số 121/2018/HS-ST của Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang (23/12/2018).

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 05 giờ ngày 02/8/2017, tại xóm 11, xã KP, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, Lý Đức N sinh ngày 11/3/2001 trú tại xóm 17, xã KP, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản) đã có hành vi trộm cắp 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng) của ông Tống Văn H trú tại xóm 11, xã KP, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

Hành vi của bị cáo Lý Đức N đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Ðiều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội phạm trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2]. Hành vi của bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương. Bị cáo tuổi còn trẻ, có sức khỏe nhưng không chịu lao động mà sớm đi vào con đường vi phạm pháp luật; bị cáo đã có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và 01 lần bị Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang xét xử cùng hành vi trên.

Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Lý Đức N khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, tuy nhiên sau khi bị Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang xét xử về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo không chấp hành quy định của pháp luật về việc Cấm đi khỏi nơi cư trú để đảm bảo cho việc thi hành án mà bị cáo trốn khỏi địa phương, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Sơn đã ra Quyết định truy nã và bắt bị cáo vào ngày 23/12/2018. Đến ngày xét xử bị cáo đã 18 tuổi 08 ngày nên Hội đồng xét xử cần xử bị cáo mức án tù giam tương xứng với hành vi của bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[3]. Khi quyết định mức hình phạt Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự HĐXX áp dụng cho bị cáo để lên mức án cho phù hợp.

[4]. Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản riêng, sống phụ thuộc gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự là phù hợp.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6]. Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7]. Bị cáo đang chấp hành hình phạt 06 (sáu) tháng tù tại bản án số 121/2018/HS- ST, ngày 30/10/2018 của Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của hai bản án.

[8]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56; Điều 91; Điều 101; Điều 104 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Lý Đức N phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt: Bị cáo Lý Đức N 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 06 (sáu) tháng tù tại bản án án số 121/2018/HS-ST, ngày 30/10/2018 của Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án của bản án 121/2018/HS-ST của Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang (ngày 23/12/2018).

2. Căn cứ: Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


76
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 22/2019/HS-ST ngày 20/03/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:22/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Sơn - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về