Bản án 22/2019/HS-PT ngày 27/03/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 22/2019/HS-PT NGÀY 27/03/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 27 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 15/2019/TLPT-HS ngày 30 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Hoàng Công M do kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 178/2018/HS-ST ngày 25-12-2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Hoàng Công M; sinh ngày 06-6-1993 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT: 18/3 TT, phường c, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: 280/17 PĐP, phường h, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: Lớp 12/12; con ông: Hoàng Công B, sinh năm 1960; con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1960; vợ: Phạm Thị Minh T, sinh năm 1990, có 01 con, sinh năm 2018. Hiện cư trú tại: 18/3 TT, phường c, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 28-9-2018; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Công M là đối tượng sử dụng chất ma túy từ cuối năm 2016. Trong thời gian sử dụng ma túy, M thường mua ma túy của một người tên C (không rõ lai lịch, địa chỉ) ở tại thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng đầu tháng 8-2018, M thuê căn nhà số 280/17 PĐP, phường h, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng để mở tiệm kinh doanh dịch vụ cầm đồ và có thuê Phạm Văn H và Nguyễn Ngọc Thanh D làm người giúp việc.

Vào ngày 24-9-2018, M gọi điện thoại hỏi mua của C 28.000.000 đồng tiền ma túy gồm: 115 viên thuốc lắc và 02 gói Ketamine, M hẹn sẽ trả trước cho C 20.000.000 đồng, C đồng ý và hẹn Minh khi nào có ma túy sẽ giao cho M. Khoảng 23 giờ ngày 27-9-2018, khi M đang hát ở quán karaoke Sơn 2 trên đường NCT, phường h, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng cùng với Dương, Hùng và một số người bạn của M từ Thành phố Hồ Chí Minh lên chơi thì có một thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) đến quán karaoke gặp và giao cho M 01 túi nilon màu đen. Sau khi nhận túi nilon, M vào nhà vệ sinh của quán karaoke Sơn 2, mở ra kiểm tra thì thấy bên trong có: 01 chiếc cân điện tử; một số gói nilon nhỏ màu trắng trong và 01 hộpgiấy (loại hộp đựng  bóng đèn hiệu Tatat). Tiếp tục mở hộp giấy ra kiểm tra, M thấy bên trong có tổng cộng 12 gói nilon chứa thuốc lắc và 01 gói nilon chứa Ketamine. Thấy vậy, M đem túi nilon màu đen đã nhận về tiệm cầm đồ của mình và lấy 01 gói thuốc lắc, 01 gói Ketamine cất vào trong người để đem đến quán karaoke Sơn 2 sử dụng cùng bạn bè. Số ma túy còn lại và chiếc cân điện tử, M cất giấu trong phòng tắm, gần nhà bếp của tiệm cầm đồ, sau đó quay lại quán karaoke Sơn 2 để tiếp tục hát karaoke. Trong quá trình hát, M đã lấy ra 06 viên thuốc lắc để sử dụng cùng bạn bè. Đến khoảng 02 giờ ngày 28-9-2018, M, D và H về lại tiệm cầm đồ ngủ, số thuốc lắc và gói Ketamine còn lại chưa sử dụng, Minh bỏ vào ngăn tủ kê trong phòng ngủ.

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 28-9-2018, Công an thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng kiểm tra tiệm cầm đồ của M thì phát hiện, thu giữ 01 gói nilon chứa 06 viên nén màu hồng, bề mặt có chữ LV (ký hiệu M1); 01 vỏ bao thuốc lá hiệu White Horse, bên trong có 01 gói nilon đựng chất dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) trong ngăn tủ gỗ trong phòng ngủ của tiệm cầm đồ. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Công M tại số 280/17 PĐP, phường h, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng, Công an thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục thu giữ tại góc tường phía ngoài nhà tắm, thuộc khu vực bếp 01 bịch nilon màu đen, bên trong có: 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa chất ở dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu M3); 04 gói nilon, bên trong chứa tổng cộng 37 viên nén hình mặt người, màu hồng đậm, bề mặt có hình 5 ngôi sao và chữ TRUMP (ký hiệu M4); 07 gói nilon màu trắng, bên trong đựng 66 viên nén hình tròn màu hồng, bề mặt có chữ LV (ký hiệu M5); 01 túi nilon màu đen, bên trong đựng 09 gói nilon màu trắng trong; 01 ống bằng nhựa màu trắng, dài 11cm, được cắt vát nhọn 1 đầu và 01 bật lửa gas màu trắng; 01 vỏ hộp đựng bóng đèn hiệu Tatat; 01 cân điện tử màu trắng-đỏ hiệu Mallora; 153 gói nilon hình chữ nhật, kích thước 02x03cm và 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng đồng, có gắn sim số 0984561331 và 01 khẩu súng ngắn bằng kim loại, màu xanh rêu (của Hoàng Công Minh); 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xám, có gắn sim số 0976075033; 01 điện thoại di động hiệu Vertu màu đen, viền trắng, có gắn sim số 0976075033 và 13. 000.000 đồng (của Phạm Văn Hùng); 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng đồng, có gắn sim số 09333602026 (của Nguyễn Ngọc Thanh D).

Tại Kết luận giám định số 1609/GĐ-PC09 ngày 03-10-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Phong bì 1: 06 viên nén đựng trong 01 gói nilon được niêm phong, có khối lượng 02,0262 gam là chất MDMA; Phong bì 2: Mẫu tinh thể đựng trong 01 gói nilon được niêm phong, có khối lượng 05,3433 gam là chất MDMA; Phong bì 3: Mẫu tinh thể đựng trong 01 gói nilon được niêm phong, có khối lượng 03,6810 gam là chất Ketamine; Phong bì 4: 37 viên nén đựng trong 04 gói nilon được niêm phong, có khối lượng 16,2886 gam là chất MDMA và phong bì 5: 60 viên nén đựng trong 07 gói nilon được niêm phong có khối lượng 22,2034 gam là chất MDMA. MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 27 và Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 35, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15-5-2018 của Chính phủ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Công M không thắc mắc hay khiếu nại gì đối với Kết luận của Cơ quan giám định nêu trên.

Tại Cáo trạng số 184/CT-VKS ngày 19-11-2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Hoàng Công M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Bản án số 178/2018/HS-ST ngày 25-12-2018 Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng: Tuyên bố bị cáo Hoàng Công M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Hoàng Công M 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28-9-2018.

Bản án còn xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo.

Ngày 07-01-2019 bị cáo Hoàng Công M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm; bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét lời khai của các bị cáo cáo Hoàng Công M tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cho thấy:

Vào ngày 24-9-2018, M gọi điện thoại hỏi mua của C 28.000.000 đồng tiền ma túy gồm: 115 viên thuốc lắc và 02 gói Ketamine, M hẹn sẽ trả trước cho C 20.000.000 đồng, C đồng ý và hẹn M khi nào có ma túy sẽ giao cho Minh. Khoảng 23 giờ ngày 27-9-2018, khi M đang hát ở quán karaoke Sơn 2 trên đường NCT, phường h, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng cùng với D, H và một số người bạn của M từ thành phố Hồ Chí Minh lên chơi thì có một thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) đến quán karaoke gặp và giao cho M 01 túi nilon màu đen. Sau khi nhận túi nilon, M vào nhà vệ sinh của quán karaoke Sơn 2, mở ra kiểm tra thì thấy bên trong có: 01 chiếc cân điện tử; một số gói nilon nhỏ màu trắng trong và 01 hộp giấy (loại hộp đựng bóng đèn hiệu Tatat). Tiếp tục mở hộp giấy ra kiểm tra, Minh thấy bên trong có tổng cộng 12 gói nilon chứa thuốc lắc và 01 gói nilon chứa Ketamine. Thấy vậy, M đem túi nilon màu đen đã nhận về tiệm cầm đồ của mình và lấy 01 gói thuốc lắc, 01 gói Ketamine cất vào trong người để đem đến quán karaoke Sơn 2 sử dụng cùng bạn bè. Số ma túy còn lại và chiếc cân điện tử, M cất giấu trong phòng tắm, gần nhà bếp của tiệm cầm đồ, sau đó quay lại quán karaoke Sơn 2 để tiếp tục hát karaoke. Trong quá trình hát, M đã lấy ra 06 viên thuốc lắc để sử dụng cùng bạn bè. Đến khoảng 02 giờ ngày 28-9-2018, M, D và H về lại tiệm cầm đồ ngủ, số thuốc lắc và gói Ketamine còn lại chưa sử dụng, Minh bỏ vào ngăn tủ kê trong phòng ngủ.

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 28-9-2018, Công an thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng kiểm tra tiệm cầm đồ của Minh thì phát hiện, thu giữ 01 gói nilon chứa 06 viên nén màu hồng, bề mặt có chữ LV (ký hiệu M1); 01 vỏ bao thuốc lá hiệu White Horse, bên trong có 01 gói nilon đựng chất dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) trong ngăn tủ gỗ trong phòng ngủ của tiệm cầm đồ.

 [2] Bị cáo Hoàng Công M nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bản thân là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, bị cáo nhận thức được rằng ma túy là chất kích thích bị Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, mua bán nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện.

Chính vì vậy, Bản án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; tuyên bố bị cáo Hoàng Công M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28-9-2018 là đúng với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên kháng cáo nhưng xét thấy mức án mà cấp sơ thẩm đã xử là phù hợp; do đó không chấp nhận kháng cáo của bị cáo như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đúng pháp luật.

[3] Về án phí: Bị cáo Hoàng Công M phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Công M; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Công M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; tuyên bố bị cáo Hoàng Công M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28-9-2018.

2. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Công M phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


37
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về