Bản án 22/2019/DS-ST ngày 13/11/2019 về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 22/2019/DS-ST NGÀY 13/11/2019 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

Ngày 13 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 101/2019/TLST-DS, ngày 22/7/2019 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐXXST-DS, ngày 03/10/2019,Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2019/QĐST-DS ngày 25/10/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Y K1 (có mặt)

Địa chỉ: Bon R, xã N, huyện K, Đăk Nông.

- Bị đơn: Ông Y K2 (vắng mặt), anh Y S, sinh ngày 25/9/2000 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Bon Y, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông.

- Người làm chứng:

1. Bà H B, sinh năm 1982 (vắng mặt, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)

2. Bà H Yế, sinh năm 1990 (vắng mặt, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Bon Y, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông

NỘI DUNG VỤ ÁN

 * Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Y K1 trình bày:

Vào năm 2016 giữa ông Y K1 và hộ gia đình ông Y K2 thỏa thuận mua đất của ông Y K2 với diện tích 700m2 để múc ao, giá tiền là 4.000.000 đồng, ông Y K1 đã đặt cọc cho ông Y K2 số tiền 2.000.000 đồng, sau khi đặt cọc được khoảng hai tuần thì ông Y K2 sang nhượng thửa đất cho người khác nên ông Y K1 đòi lại số tiền đã đặt cọc 2.000.000 nhưng ông Y K2 không trả cho ông Y K1, ông Y K1 đã đến đòi nhiều lần nhưng ông Y K2 không chịu trả lại số tiền trên nên khoảng 18 giờ 00 phút ngày 25/11/2018 ông Y K1 đến nhà ông Y K2 (địa chỉ thôn Y, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông) để đòi số tiền 2.000.000 đồng đã đặt cọc. Khi đến nhà ông Y K2 thì ông Y K1 có nói “Y K2 có tiền chưa trả cho tôi, thì ông Y K2 trả lời tao không trả”, đồng thời ông Y K2 túm cổ áo của tôi, Y S là con trai ông Y K2 từ đằng sau dùng chân đá vào lưng của ông Y K1 hai lần, sau đó anh Y S đóng cửa lại và lấy 03 tấm ván đánh vào đầu, tay và mắt của ông Y K1 khoảng 04 đến 05 cái, sau khi đánh trong nhà gẫy 03 tấm ván anh Y S lôi ông Y K1 ra ngoài sân đồng thời dùng cây le dài khoảng hơn một mét đánh vào đầu ông Y K1 khoảng 02 cái thì ông Y K1 bất tỉnh không biết gì, sau đó được mọi người can ngăn và đưa đi cấp cứu tại bệnh viện huyện Krông Nô. Sau khi bị đánh Công an đưa đi giám định. Tại bản kết luận giám định thương tích số 97/TgT ngày 04/4/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Đăk Nông kết luận thương tích của ông Y K1 là 0%. Nay, ông Y K1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Y K2 và anh Y S bồi thường tổng cộng 46.180.000 đồng, cụ thể: Tiền chi phí thuốc men tại các bệnh viện số tiền 25.000.000 đồng; Tiền công người thân đi chăm sóc 26 ngày x 180.000 đồng/ngày = 4.680.000 đồng; Tiền tàu xe đi lại 5.500.000 đồng; Tiền ăn uống bồi dưỡng sức khỏe 6.000.000 đồng; Tiền mất thu nhập 5.000.000 đồng.

Tại phiên tòa ông Y K1 rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với 12.720.000 đồng trong số tiền 46.180.000 đồng; đồng thời rút yêu cầu bồi thường đối với ông Y K2 do ông Y K2 không có hành vi gây thương tích cho ông Y K1. Ông Y K1 cầu anh Y S bồi thường số tiền 33.460.000 đồng, cụ thể: Tiền công người nuôi dưỡng là 4.360.000 đồng;Tiền tàu xe đi lại tại các bệnh viện (Krông Nô, Đắk Lắk và thành phố Hồ Chí Minh) là 13.300.000 đồng;Tiền khám và tiền thuốcđiều trị tại các bệnh viện: 6.800.000 đồng; Tiền mất thu nhập do điều trị tại các bệnh viện: 9.000.000 đồng và không yêu cầu bổ sung gì thêm.

* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Y K2 trình bày:

Trước đây giữa gia đình ông Y K2 và ông Y K1 không có mâu thuẫn gì với nhau nhưng đến tháng 02/2016 ông Y K1 có thỏa thuận với vợ chồng ông Y K2 được múc ao trong đất của ông Y K2 để tưới cà phê đồng thời ông Y K1 đưa cho vợ chồng ông Y K2 số tiền 2.000.000 đồng, nhưng sau này ông Y K1 không múc ao trong đất của ông Y K2 nữa nên ông Y K1 đòi lại số tiền 2.000.000 đồng đã đưa cho Y K2. Thời điểm đó gia đình ông Y K2 gặp nhiều khó khăn nên không trả cho ông Y K1 được, ngày 15 tháng 8 năm 2018 ông Y K2 mới trả cho ông Y K1 được 500.000 đồng, số tiền còn lại 1.500.000 đồng ông Y K2 khất lại đến mùa cà phê năm 2018 sẽ trả đầy đủ, đến ngày 25/11/2018 ông Y K1 xuống nhà ông Y K2 đòi tiền nhưng chưa có tiền trả rồi hai bên xảy ra xô xát. Ông Y K1 dùng tay phải đánh vào mặt trái của Y K2 02 cái, sau đó ông Y K2 ngã xuống nền nhà tại phòng khách của nhà Y K2, bà H B (vợ Y K2) kêu lên thì ông Y K1 túm tóc của bà H B và dùng tay phải đánh vào đầu của bà H B. Lúc đó Y S (con trai Y K2) đang ở trong phòng ngủ chạy ra dùng tấm ván mục giơ lên để đánh ông Y K1 thì ông Y K1 giơ tay lên đỡ nên tấm ván bể ra hết. Ông Y K1 đi ra ngoài sân và gọi điện cho 04 người con của Y K1 lên nhà Y K2, trong lúc bực tức anh Y S dùng tay đấm vào mặt của Y K1, hàng xóm nghe ồn ào nên đến can ngăn. Sau đó ông Y K2 được đưa đi cấp cứu tại trạm y tế xã N. Nay, ông Y K1 yêu cầu ông Y K2 và anh Y S bồi thường tổng cộng 46.180.000 đồng thì ông Y K2 không đồng ý bồi thường. Ông Y K2 không có yêu cầu gì thêm.

* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Y S trình bày:

Việc mâu thuẫn giữa ông Y K1 và ông Y K2 (bố Y S) thì Y S không biết nhưng khoảng 17 giờ 00 phút ngày 25/11/2018, anh Y S đang còn ngủ trong phòng thì nghe tiếng bà H B (mẹ Y S) và H T (em gái) kêu lên “Bố chết rồi”, sau đó anh Y S giật mình tỉnh giấc thấy ông Y K1 túm tóc, đấm bà H B vào đầu, thấy vậy Y S mới xông vào đánh ông Y K1. Anh Y S dùng tay phải đánh 01 cái trúng vào mặt (má bên nào thì Y S không nhớ), còn tay trái đánh 01 cái nhưng đánh bị trật do ông Y K1 tránh được. Tại thời điểm này Y S có cầm tấm ván bị mục dọa ông Y K1 bảo Y K1 về nhưng Y K1 không chịu về, bà H B kéo Y S ra ngoài. Sau đó sự việc diễn ra sau đó như thế nào thì anh Y S không biết. Nay, ông Y K1 yêu cầu anh Y S bồi thường tiền 46.180.000 đồng thì anh Y S không đồng ý bồi thường. Ngoài ra Y S không có yêu cầu gì thêm.

* Quá trình giải quyết người làm chứng chị H Y trình bày:

Chiều ngày 25/11/2018, bà H Y thấy hai người con của ông Y K1 nói chuyện gì đó bà H Y không nghe rõ sau đó khoảng 30 phút ông Y K1 đến nhà ông Y K2 rồi hai bên xảy ra cãi nhau, ông Y K1 dùng tay đánh ông Y K2 chảy máu đầu rồi ông Y K2 ngã vào tường. Bà H B can ngăn thì ông Y K1 lấy tay đánh vào đầu bà H B, lúc đó bà H Y sờ đầu bà H B thấy sưng nhưng bà H B không đi bệnh viện. AnhY S thấy vậy cầm tấm ván ra đánh ông Y K1. Lúc đó ông Y K1 không bị thương tích gì. Sau khi sự việc xảy ra khoảng 03 ngày bà thấy ông Y K1 đi hái cà phê và đi đổ xăng ở cây xăng.

*Quá trình giải quyết người làm chứng bà H B trình bày:

Năm 2016, ông Y K1 đưa cho bà H B số tiền 2.000.000 đồng để múc ao trên thửa đất của bà H B nhưng ông Y K1 không múc. Ông Y K1 yêu cầu gia đình Y K2 trả lại số tiền 2.000.000 đồng nhưng thời điểm đó gia đình bà không có tiền trả nên ông Y K1 có đến nhà đòi tiền nhiều lần. Còn việc mua bán đất thì gia đình Y K2 không bán nên Y K2 không có giấy tờ bán đất. Tháng 8/2018, gia đình ông Y K2 trả cho vợ ông Y K1 500.000 đồng và hẹn tháng 12/2018 trả nốt số tiền còn lại nhưng đến tháng 11/2018 ông Y K1 lên nhà đòi tiền thì hai bên xảy ra xô xát, ông Y K1 đánh ông Y K2, lúc đó bà H B kêu lên thì ông Y K1 túm tóc đánh sau đầu của bà H B, bà H B kêu lên thì anh Y S lấy tay đánh vào mặt ông Y K1 và đi ra ngoài sân cầm ván mục dọa đánh đuổi ông Y K1 về nhà nhưng giơ miếng ván lên chứ không đánh trúng ông Y K1.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Đã chấp hành đầy đủ theo quy định của pháp luật từ quá trình thụ lý, lập hồ sơ vụ án Thẩm phán đã tiến hành đúng theo quy định của pháp luật. Xác định đúng quan hệ tranh chấp giữa các bên; Tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ đến các đương sự. Thẩm phán đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo quy định. Tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng mọi thủ tục, trình tự xét xử theo đúng quy định. Hội đồng xét xử đúng thành phần, thực hiện đúng theo quy định, không có trường hợp nào phải thay đổi người tiến hành tố tụng, Hội đồng xét xử đã hỏi và thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.

Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng đã chấp hành đầy đủ các quy định, quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Y K1 buộc anh Y S phải bồi thường cho ông Y K1 số tiền 1.440.000 đồng; Không chấp nhận yêu cầu của ông Y K1 buộc anh Y S phải bồi thường số tiền 32.020.000 đồng; Đình chỉ đối với yêu cầu của ông Y K1 yêu cầu ông Y K2 bồi thường và yêu cầu anh Y S bồi thường số tiền 12.720.000 đống do ông Y K1 đã tự nguyện rút tại phiên tòa.

- Buộc anh Y S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định, ông Y K1 được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả thẩm tra công khai các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Ông Y K1 yêu cầu Tòa án buộc ông Y K2, anh Y S, cư trú tại Bon Y, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông bồi thường thiệt hại do bị xâm phạm về sức khỏe nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô theo quy định tại khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 25/11/2018, anh Y S có hành vi đánh ông Y K1. Đến ngày 12/6/2019, ông Y K1 khởi kiện yêu cầu ông Y K2, anh Y S bồi thường thiệt hại về sức khỏe. Căn cứ vào Điều 588 Bộ luật dân sự 2015 thì vụ án còn trong thời hiệu khởi kiện.

[2]. Về nội dung tranh chấp:

2.1. Về chứng cứ chứng minh: Quá trình giải quyết vụ án ông Y K1 cung cấp các tài liệu, chứng cứ: Biên lai thu tiền ngày 28/10/2018 (BL 09); Toa thuốc ngày 07/10/2018 (BL 10); Biên lai thu tiền ngày 07/10/2018 (BL 11); Toa thuốc ngày 22/08/2018 (BL 12); Biên lai thu tiền ngày 22/8/2018 (BL 13); Đơn thuốc (BL 13); Toa thuốc ngày 28/10/2018 (BL 15); Biên lai thu tiền ngày 28/10/2018 (BL 16); Biên lai thu tiền ngày 07/10/2018 (BL 17); 02 kết quả xét nghiệm, ngày 22/8/2018 (BL 18 - 19); phiếu siêu âm, ngày 22/8/2018 (BL 20); Kết quả xét nghiệm, ngày 07/10/2018 (BL 21); kết quả xét nghiệm, ngày 28/10/2018 (BL 22); 01 giấy ra viện, ngày 03/12/2018 (BL 37); hóa đơn bán hàng, ngày 01/02/2019 (BL 38); Bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh nội trú ngày 03/12/2018 (BL 39); Sổ khám bệnh – phiếu thu tiền thuốc (BL 41-43); Hợp đồng thuê xe ngày 14/4/2019; Hợp đồng thuê xe ngày 31/01/2019.

Sự việc xảy ra ngày 25/11/2018 nhưng các tài liệu ông Y K1 cung cấp trước ngày 25/11/2018 nên Hội đồng xét xử không chấp nhận các chứng cứ Biên lai thu tiền ngày 28/10/2018 (BL 09); Toa thuốc ngày 07/10/2018 (BL 10); Biên lai thu tiền ngày 07/10/2018 (BL 11); Toa thuốc ngày 22/08/2018 (BL 12); Biên lai thu tiền ngày 22/8/2018 (BL 13); Đơn thuốc (BL 13); Toa thuốc ngày 28/10/2018 (BL 15); Biên lai thu tiền ngày 28/10/2018 (BL 16); Biên lai thu tiền ngày 07/10/2018 (BL 17); 02 kết quả xét nghiệm, ngày 22/8/2018 (BL 18 - 19); phiếu siêu âm, ngày 22/8/2018 (BL 20); Kết quả xét nghiệm, ngày 07/10/2018 (BL 21); kết quả xét nghiệm, ngày 28/10/2018 (BL 22) của ông Y K1.

Quá trình giải quyết vụ án ông Y K2 đã nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh ông bị thương tích khi xảy ra xô xát với ông Y K1: Biên lai thu tiền, đơn thuốc tại phòng khám đa khoa Vạn An ngày 26/11/2018 (bl 47-52); đơn thuốc ngày 25/11/2018 không có địa chỉ nơi cung cấp đơn thuốc và Biên lai thu tiền, phiếu chụp CT tại Bệnh viện đa khoa Thiện Hạnh ngày 01/8/2019 (58-68), tuy nhiên ông Y K2 không yêu cầu giải quyết cũng như phản tố, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2.2. Về hành vi trái pháp luật:

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án và lời khai của các đương sự, người làm chứng Hội đồng xét xử nhận thấy:

Vào khoảng 18 giờ ngày 25/11/2018, ông Y K1 đến nhà ông Y K2 để đòi số tiền 2.000.000 đồng mà ông Y K2 nợ trước đây. Tuy nhiên, khi đến nơi thì giữa ông Y K1 và ông Y K2 có lời qua tiếng lại nên dẫn đến việc cãi vã, xô xát, đánh nhau giữa ông Y K1, ông Y K2. Anh Y S (sinh ngày 25/9/2000, con trai ông Y K2) thấy bố mình là ông Y K2 bị đánh nên đã dùng tay đấm vào mặt ông Y K1, tiếp đó anh Y S đi ra phía ngoài sân cầm miếng gỗ đánh vào tay Y K1. Hậu quả ông Y K1 bị thương tích phải đi điều trị tại Trung tâm y tế huyện Krông Nô từ 19 giờ 15 phút ngày 25/11/2018 đến 9 giờ 20 phút ngày 03/12/2018 thì ra viện.

Tại bản kết luận pháp y thương tích số 97 ngày 04 tháng 4 năm 2019 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế Đăk Nông kết luận đối với ông Y K1: Các tổn thương không để lại di chứng, tỷ lệ thương tích 0% (bl 73). Không có căn cứ để khẳng định mất thị lực mắt trái là do chấn thương trong lúc bị đánh ngày 21/11/2018, vì tiền sử cách đây 06 năm nạn nhân đã bị chấn thương mắt trái do tai nạn giao thông.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Y S thừa nhận dùng tay không đấm vào mặt ông Y K1, tiếp đó anh Y S đi ra phía ngoài sân cầm miếng gỗ đánh ông Y K1. Mặc dù không có thương tích nhưng anh Y S đã có hành vi đánh ông Y K1 phù hợp với bản kết luận pháp y thương tích (bl 73) là các tổn thương tại vùng đầu, vùng mặt và tay trái là do bị vật tày tác động. Hành vi của anh Y S chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội “Cố ý gây thương tích”.

Tại khoản 1 Điều 584 của Bộ luật dân sự quy định “1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường…”.

Tại khoản 1 Điều 586 của Bộ luật dân sự quy định “ Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường” Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định anh Y S đã được 18 tuổi 02 tháng và hành vi của anh Y S đã làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại sức khỏe đối với ông Y K1.

2.3. Về mức độ lỗi và hậu quả:

Quá trình giải quyết và tại phiên tòa ông Y K1 thừa nhận ông Y K2 không đánh ông Y K1, đồng thời tại phiên tòa ông Y K1 không yêu cầu ông Y K2 bồi thường thiệt hại về sức khỏe. Hội đồng xét xử xét thấy việc ông Y K1 rút yêu cầu là tự nguyện, cũng như ông Y K2 không đánh Y K1, do đó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ bồi thường đối với Y K2, căn cứ Điều 244 của bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ yêu cầu ông Y K2 bồi thường cho ông Y K1.

Đối với anh Y S thừa nhận có hành vi dùng tay đánh vào mặt ông Y K1. Anh Y S là người thực hiện hành vi với lỗi cố ý, trực tiếp gây thiệt hại cho sức khỏe của ông Y K1 mặc dù tỷ lệ thương tích 0% nhưng đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Ông Y K1 đã chi phí điều trị, thiệt hại do bị mất thu nhập.Vì vậy, Hội đồng xét xử cần buộc anh Y S phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại những chi phí hợp lý đối với hành vi và hậu quả do hành vi của mình gây ra mới bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

2.4. Về mức bồi thường thiệt hại:

Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông Y K1 yêu cầu anh Y S phải bồi thường là hoàn toàn có căn cứ. Vì, anh Y S đã thực hiện hành vi dùng tay không đấm vào mặt ông Y K1 và dùng miếng gỗ đánh ông Y K1 đã tác động trực tiếp trên người ông Y K1. Hành vi này hoàn toàn có lỗi, có mối liên hệ với hậu quả xảy ra nên anh Y S phải có trách nhiệm dân sự để bồi thường thiệt hại về sức khỏe.

Tại phiên tòa ông Y K1 yêu cầu anh Y S phải bồi thường tổng số tiền là 33.460.000 đồng đồng. Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thì những thiệt hại do sức khỏe của ông Y K1 bị xâm hại 0%. Căn cứ hồ sơ bệnh án cho thấy kết quả sau khi ông Y K1 bị anh Y S đánh lúc 18 giờ 00 phút, ngày 25/11/2018 đã nhập viện bệnh viện huyện Krông Nô, lúc 19 giờ 15 phút ngày 25/11/2018 (Bl 39) đã chụp X quang sọ thẳng nghiêng và chụp X quang xương căng tay thẳng nghiêng, tại giấy ra viện tại bệnh viện huyện Krông Nô (Bl 37) cho thấy chẩn đoán chấn thương, đầu mặt, cẳng tay. Đến 09 giờ 20 phút ngày 03/12/2018, ông Y K1 ra viện.

Tại khoản 1 mục II của Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP, ngày 08/7/2006, căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 của Bộ luật dân sự 2015. Việc đề nghị của ông Y K1 là không hợp lý.

Đối với tiền thuốc ông Y K1 yêu cầu 25.000.000 đồng: Tại phiếu tiền thuốc và viện phí điều trị thời gian nằm ở bệnh viện Krông Nô 08 ngày 25/11/2018 đến ngày 03/12/2018 theo hóa đơn chứng từ ông Y K1 cung cấp là: 1.248.335 đồng. Tuy nhiên việc chi phí điều trị tại bệnh viện huyện Krông Nô ông Y K1 đã được bảo hiểm Y tế chi trả và người bệnh đóng: Không đồng (bl 39). Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận tiền thuốc và viện phí là 1.248.335 đồng.

Đối với tiền mất thu nhập của người chăm sóc ông Y K1 yêu cầu 4.360.000 đồng: Ông Y K1 chỉ bị Y S dùng tay không đấm vào mặt và dùng miếng gỗ đánh ông Y K1 nhưng ông Y K1 đỡ được, tại phiên tòa Y K1 có khai thời gian điều trị tại bệnh viện ông tự đi lại được, phục vụ nhu cầu cá nhân không cần người chăm sóc. Vì vậy Hội đòng xét xử không chấp nhận yêu cầu này cũng như không chấp nhận yêu cầu của ông Y K1 đối với các khoản: Chi phí đi lại và tiền khám chữa bệnh tại Phòng Khám đa khoa Phan Chu Trinh, bệnh viện đa khoa Vùng Tây Nguyên, Bệnh viện Mắt thành phố Hồ Chí Minh số tiền 32.020.000 đồng.

Đối với tiền mất thu nhập nằm viện ngày 25/11/2018 đến ngày 03/12/2018: là 08 ngày là thực tế ông Y K1 đã nằm viện 08 x 180.000 đồng/ngày = 1.440.000 đồng. Hội đồng xét xử chấp nhận tiền mất thu nhập trong thời gian nằm viện là 1.440.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền anh Y S phải bồi thường cho ông Y K1 do hành vi của anh S gây ra là 1.440.000 đồng.

2.5. Tại phiên tòa ông Y K1 rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 12.720.000 đồng trong số tiền 46.180.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, việc ông Y K1 rút yêu cầu là tự nguyện. Căn cứ Điều 244 của bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ đối với số tiền 12.720.000 đồng.

[3]Về án phí: Áp dụng Điều 147 và điểm d, khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông K1 được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Anh Y S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền từ 6.000.000 đồng trở xuống là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các khoản 6 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 244; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP, ngày 08/7/2006; Điều 26, điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Y K1.

Buộc anh Y S phải bồi thường cho ông Y K1 số tiền mất thu nhập nằm viện: 1.440.000 đồng (một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

[2] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Y K1 yêu cầu anh Y S phải bồi thường các khoản chi phí đi lại và tiền khám chữa bệnh tại Phòng Khám đa khoa Phan Chu Trinh, bệnh viện đa khoa Vùng Tây Nguyên, Bệnh viện Mắt thành phố Hồ Chí Minh số tiền 32.020.000 đồng đồng.

[3] Đình chỉ xét xử yêu cầu của ông Y K1 yêu cầu anh Y S bồi thường thiệt hại về sức khỏe số tiền 12.720.000 đồng và đình chỉ xét xử yêu cầu của ông Y K1 yêu cầu ông Y K2 bồi thường cho ông Y K1.

[4] Về án phí: Ông Y K1 được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Buộc anh Y S phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô.

[5] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đựơc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thu hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


24
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về