Bản án 22/2018/HSST ngày 06/09/2018 về tội hủy hoại rừng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 22/2018/HSST NGÀY 06/09/2018 VỀ TỘI HỦY HOẠI RỪNG

Trong ngày 06 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở TAND huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2018/HSST ngày 12/7/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2018/QĐXXST-HS ngày 23/8/2018 đối với bị cáo:

Đinh Thị R (tên gọi khác Giá Ư ), sinh năm 1961, tại huyện T , Bình Định; nơi cư trú: Làng K, xã Vĩnh K , huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Ba na; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; con ông Đinh Văn B (chết) và bà Đinh Thị Kr (chết); có chồng là Đinh Văn T (chết) và 06 con, con lớn nhất sinh năm 1981, con nhỏ nhất sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: không; bị cáo được tại ngoại, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Minh V - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Định, có mặt

- Người bị hại: Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Hoài Ân.

Địa chỉ: Số 7 , đường Phạm Văn Đ , thị trấn T, huyện Hoài Ân, Bình Định.

Do ông Lê Văn B - Giám đốc làm đại diện, có mặt.

- Người làm chứng:

1. Đinh Văn H , sinh năm 1998

Nơi cư trú: Làng K , xã Vĩnh K , huyện Vĩnh Thạnh,tỉnh Bình Định, có mặt

2. Đinh Văn T , sinh năm 1981

Nơi cư trú: Thôn O 6, xã M, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, vắng mặt

3. Đinh Thị V , sinh năm 1984

Nơi cư trú: Thôn O 6, xã M, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, vắng mặt

- Cơ quan bảo vệ rừng: Hạt kiểm lâm huyện Hoài Ân

Địa chỉ: 129 đường Nguyễn Tất T , thị trấn T, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H - Hạt trưởng, có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào tháng 6/2015 Đinh Thị R đến khu vực rừng tự nhiên tại khoảnh 4 tiểu khu 129 có tục danh Hố Mờ Tươi, thuộc địa phận xã B , huyện Hoài Ân, dùng rựa phát rừng làm rẫy trong thời gian 15 ngày, sau đó đốt cháy cây rừng, lau lách rồi trồng cây keo nguyên liệu giấy trên diện tích rẫy đã phát. Sau khi phát hiện thì Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Hoài Ân và Hạt kiểm lâm huyện Hoài Ân đã xử lý, phá bỏ toàn bộ số cây keo đã trồng.

Theo Thông báo số 144/TB-TTQH ngày 11/10/2017 của Trung tâm quy hoạch nông nghiệp nông thôn thộc Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bình Định thì thiệt hại về rừng do Đinh Thị R gây ra được xác định: Địa điểm bị thiệt hại gồm lô 25a1 khoảnh 4, tiểu khu 129, xã B , huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định; diện tích rừng bị thiệt hại 11.421m2; loại rừng bị thiệt hại là rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh, có trạng thái rừng nghèo, thuộc quy hoạch chức năng rừng phòng hộ; trữ lượng rừng bị thiệt hại là: 15,6m3 gỗ. Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Hoài Ân ngày 07/6/2018 thì trữ lượng rừng bị thiệt hại 15,6m3 gỗ có giá trị là 11.840.400,đ.

Tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKS-HA ngày 28/6/2018 của VKSND huyện Hoài Ân đã truy tố Đinh Thị Rách ra trước TAND huyện Hoài Ân để xét xử về tội: “Hủy hoại rừng” theo điểm c khoản 3 Điều 243 của BLHS. Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Hoài Ân thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định đã truy tố; phần tranh luận và luận tội KSV kết luận: Tại cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Đinh Thị R đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên Kiểm sát viên kết luận bị cáo Đinh Thị R phạm tội “Tội hủy hoại rừng”. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 3 Điều 243, điểm m, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 65 của Bộ luật hình sự, phạt bị cáo Đinh Thị R 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Về bồi thường thiệt hại: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 48 của BLHS, Điều 589 Bộ luật dân sự ộc Đinh Thị R bồi thường thiệt hại đã gây ra là 11.840.400,đ. Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của  Bộ Luật tố tụng hình sự ịch thu tiêu hủy 01 cái rựa là dụng cụ bị cáo dùng để phá rừng.

Người bào chữa cho bị cáo ông Phạm Minh V bào chữa, nhất trí với bản

Cáo trạng và luận tội của đại diện VKSND huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo về tội “Hủy hoại rừng” và đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm m, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 của BLHS, xử phạt bị cáo 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Bị cáo thống nhất với ý kiến bào chữa của người bào chữa.

Ý kiến của bị hại: Nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện VKS và người bào chữa cho bị cáo, đề nghị Tòa án xét xử đúng pháp luật; về bồi thường thiệt hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại đã gây ra để đầu tư tái thiết lại rừng đã bị tàn phá.

Lời nói sau cùng bị cáo Đinh Thị R thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, mong sự khoan hồng của pháp luật, xin được hưởng án treo để có điều kiện khắc phục hậu quả.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định vụ án như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Hoài Ân,VKSND huyện Hoài Ân; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2]. Bị cáo Đinh Thị R đã có hành vi dùng rựa phát rừng làm rẫy tại khu vực rừng phòng hộ có tục danh Hố mờ tươi, lô số 25a1 thuộc khoảnh 4, tiểu khu

129, xã Bok Tới, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, với diện tích 11.421m2, gây thiệt hại về trữ lượng rừng là 15,6m3 gỗ, giá trị gỗ bị thiệt hại là 11.840.400,đ (Mười một triệu, tám trăm bốn chục ngàn, bốn trăm đồng). Do đó có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “ Tội hủy hoại rừng” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 243 BLHS năm 2015 như cáo trạng của VKSND huyện Hoài Ân đã truy tố là phù hợp.

[3] Hành vi phạm tội của Đinh Thị R là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã thể hiện sự xem thường pháp luật của bị cáo, nên mặc dù biết rõ việc phát, đốt rừng tự nhiên để làm nương rẫy mà không được các cấp có thẩm quyền cho phép là trái pháp luật, nhưng bị cáo đã dùng rựa chặt phá cây rừng trong thời gian 15 ngày để lấy đất làm rẫy, gây thiệt hại cho khu vực rừng phòng hộ, gây ảnh hưởng đến môi trường, môi sinh cho cộng đồng, nên hành vi phạm tội này cần phải lên một mức án nghiêm khắc để bị cáo có thời gian cải tạo thành người công dân tốt cho xã hội và làm gương cho những người khác. Nhưng xét bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa nên nhận thức về mặt pháp luật có phần bị hạn chế, sau khi phạm tội đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là lao động chính trong gia đình, thuộc diện hộ nghèo, nên cũng cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm m, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 của BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xử bị cáo có mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định. Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định nên cần áp dụng Điều 65 của BLHS cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ vào Điều 48 của BLHS; Điều 584, 585, 589 của BLDS cần buộc bị cáo Đinh Thị R phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về tài nguyên rừng do bị cáo đã gây ra cho Ban quản lý rừng phòng hộ hyện Hoài Ân để đầu tư tái thiết lại rừng là: 11.840.400,đ (Mười một triệu tám trăm bốn chục ngàn bốn trăm đồng).

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 cái rựa dài 58cm (như biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu ngày 25/5/2018 của Công an huyện Hoài Ân).

[6] Về án phí: Theo quy định của pháp luật bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên bị cáo được miễn toàn bộ án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: bị cáo Đinh Thị R phạm tội “Hủy hoại rừng”.

* Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 243, điểm m, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015;

Phạt bị cáo Đinh Thị R 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Đinh Thị R cho UBND xã Vĩnh K , huyện Vĩnh Thạnh theo giỏi, giáo dục trong thời gian thử thách.

Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 của Luật thi hành án hình sự

 “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

* Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 584, 585, 589 của BLDS,

Buộc bị cáo Đinh Thị R phải bồi thường về tài nguyên rừng cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Hoài Ân là 11.840.400,đ (Mười một triệu tám trăm bốn chục ngàn bốn trăm đồng) để đầu tư cho việc tái thiết lại rừng đã bị xâm hại.

Với khoản tiền đã tuyên trên, khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành mà người phải thi hành án không chịu thi hành thì phải chịu thêm một khoản lãi theo lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 đối với khoản tiền chậm thi hành.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS; Tịch thu tiêu hủy 01 cái rựa dài 58cm (Như biên bản tạm giữ ngày 25/5/2018 của Công an huyện Hoài Ân)

* Về án phí: Áp dụng Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH K14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 thì bị cáo được miễn nộp án phí hình sự và án phí dân sự.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.

 “Trong trường hợp bản án, quyết định được qui định theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6 điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”


130
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về