Bản án 220/2018/HSST ngày 20/09/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 220/2018/HSST NGÀY 20/09/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Trong ngày 20/9/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã T, Bắc Ninh, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 205/2018/ HSST ngày17/7/2018 đối với các bị cáo:

1. Ngô Phú T - sinh năm 1982; HKTT: thôn H, xã G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Đoàn thể: Không; Bố: Ngô Kế L Sinh năm 1953; Mẹ: Phan Thị P, Sinh năm 1957; Gia đình bị cáo có 3 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ; Con: Chưa có. Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/4/2018 đến ngày 09/4/2018 bị khởi tố chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh.

2. Nguyễn Văn A, sinh năm 1982; HKTT: thôn T, xã G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn:12/12; Đoàn thể: Không; Bố: Nguyễn Văn H; Sinh năm 1955; Mẹ: Nguyễn Thị T, Sinh năm 1954; Gia đình bị cáo có 3 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị L, Sinh năm 1984; Con: Bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2014.

Tiền án; Tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/4/2018 đến ngày 09/4/2018 bị khởi tố chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Hồi 8 giờ 00’ ngày 07/04/2018, tại khu phố G, phường Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Tổ tuần tra Công an phường Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn A, sinh năm: 1982, HKTT: thôn Tiêu Long, xã G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh và Ngô Phú T, sinh năm 1982, HKTT: thôn H, xã G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Lực lượng công an đã thu giữ tại lòngbàn tay phải của Nguyễn Văn A 01(một) gói nhỏ được bọc ngoài bằng lớp giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng. A và T khai nhận chất bột màu trắng trên là ma túy (heroine) của A và T cùng nhau đi mua về để cùng nhau sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt giữ. Ngoài việc thu giữ gói ma túy của An, lực lượng công an còn thu giữ của T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 99B1 –312.9x; 02 chiếc Điện thoại di động gồm: 01 chiếc Điện thoại di động nhãn hiệuIphone 6, vỏ màu vàng, bên trong có lắp sim số: 0989.021.36x của Nguyễn Văn A và01 chiếc Điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, vỏ màu trắng, bên trong có lắp sim số: 0963.767.47x của Ngô Phú T để điều tra làm rõ. Tổ công tác tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong 01 gói ma túy của A gửi đi giám định.

Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T. Cùng ngày 07/4/2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành giám định và ban hành bản Kết luận giám định số: 503 kết luận: "Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nhỏ được bọc ngoài bằng lớp giấy màu trắng có khối lượng 0,2258 gam; là ma túy; loại ma túy: Chất heroine”

Tại bản cáo trạng số 135/CT -VKS ngày 16/7/2018 của VKS nhân dân thị xã T đã truy tố Ngô Phú T, Nguyễn Văn A về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo T và A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Khoảng 7 giờ 45 ngày 07/4/2018, Ngô Phú T đang ở nhà có Nguyễn Văn A, gọi điện thoại cho T rủ T đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng. T đồng ý, sau đó T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu đỏ biển kiểm sát 99B1 – 312.9x chở An ngồi phía sau đi từ thôn T, xã G, thị xã T, Bắc Ninh đến phường Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh để mua ma túy. Trên đường đi mua ma túy T đưa cho A 150.000 đồng để A mua ma túy. Khi đến nơi, T điều khiển xe đi chậm vào khu dân cư thuộc khu phố N, phường Đ, trên đường đi A và T nhìn thấy một người thanh niên mua ma túy bằng cách đút tiền qua khe cổng nhà này nên A bảo T dừng lại trước cửa một ngôi nhà có cổng sắt đóng kín đó. Sau đó A xuống xe đi đến trước cổng ngôi nhà cách chỗ T dừng xe khoảng ba mét và đút qua khe cửa số tiền 150.000đ (là tiền T đưa cho A trước đó) để mua ma túy. Từ bên trong nhà có người cầm tiền của A rồi đưa ra ngoài cho A một gói nhỏ màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy heroin. T nhìn thấy A đã mua được ma túy nên điều khiển xe chở A đi về, trên đường đi T và A bị lực lượng công an phát hiện, bắt quả tang.

Các bị cáo xác định Viện kiểm sát thị xã T truy tố các bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là hoàn đúng người đúng tội đúng pháp luật.

Tại phiên toà hôm nay, sau khi xét hỏi vị đại diện VKS trình bày lời luận tội, phân tích tính chất mức độ, vai trò, nguyên nhân, động cơ mục đích phạm tội của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ áp dụng đối với các bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố các bị cáo trước Toà là có căn cứ đúng người, đúng tội đúng pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Ngô Phú T, Nguyễn Văn A mối bị cáo từ 13 tháng tù đến 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo bị tạm giữ tạm giam 07/04/2018.

Phạt mỗi bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.

Áp dụng điều 47 BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định, tất cả được đóng gói niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh;

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 02 chiếc Điện thoại di động gồm: 01 chiếc Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ màu vàng và 01 chiếc Điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, vỏ màu trắng.

Tich thu tiêu hủy 02 sim điện thoại số 0989.021.368; 0963.767.472 Tạm giữ của mỗi bị cáo T và A số tiền 5.200.000 đồng nộp tại cơ quan thi hành án thị xã T để đảm bảo thi hành án.

Các bị cáo không tranh luận gì về tội danh và khung hình phạt mà đại diện VKS đề nghị HĐXX áp dụng đối với bị cáo.

Khi được nói lời sau cùng các bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lời khai của bị cáo T và bị cáo A tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc Ninh về số ma tuý thu giữ của bị cáo T và bị cáo A. Do đó đã có đủ các căn cứ để xác định bị cáo A đã rủ bị cáo T cùng đi mua ma túy về cùng sử dụng. Sau khi mua được ma tuý các bị cáo đi tìm chỗ sử dụng khi chưa kịp sử dụng ma tuý thì bị lực lựơng Công an bắt quả tang. Khi bắt quả tang, bị cáo A là người đang tàng trữ ma túy trong người. Tuy nhiên, bị cáo T là người đưa tiền cho bị cáo A và hai bị cáo cùng nhau đi mua ma túy về với mục đích cùng nhau sử dụng, nên các bị cáo đã đồng phạm trong tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Trọng lượng ma túy mà T và A tàng trữ là 0,2258 gam là Heroin. Do vậy, Viện kiểm sát thị xã T truy tố T và A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là hoàn toàn đúng người đúng tội đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm vào một khách thể quan trọng được pháp luật hình sự bảo vệ, đó là chế độ độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước ta. Tính chất phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng. Hậu quả bị cáo đã tiếp tay cho những kẻ buôn bán trái phép chất ma tuý, gieo rắc cái chết trắng, gây mất trật tự xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy đối với hành vi này của các bị cáo cần phải xử lý với mức hình phạt nghiêm khắc thì mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung tội phạm trên địa bàn.

Đây là vụ án đồng phạm nên cần xem xét vai trò của từng bị cáo. Trong vụ án này bị cáo T và bị cáo A có vai trò ngang nhau. Bị cáo A là người rủ bị cáo T đi mua ma túy. Bị cáo T sau khi được A rủ đi mua ma túy đã trực tiếp đưa tiền cho bị cáo A và chở bị cáo A đi mua ma túy. Bị cáo A là người vào mua ma túy và khi bắt giữ bị cáo A là người đang tàng trữ ma túy trong người. Nên khi quyết định hình phạt các bị cáo phải chịu mức hình phạt ngang nhau.

Về nhân thân của các bị cáo thấy: Các bị cáo là người chưa có tiền án tiền sự nhưng là đối tượng nghiện ma túy.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy: Tạicơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Cả hai bị cáo đã nộp trước khoản tiền phạt và tiền án phí nên các bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS năm 2015. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Căn cứ nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đối với lần phạm tội này của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện cải tạo các bị cáo thành người tốt.

Bên cạnh việc bắt các bị cáo phải chịu hình phạt chính là hình phạt tù, cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với mẫu vật còn lại sau giám định, tất cả được đóng gói niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, xét cần phải tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 02 chiếc Điện thoại di động gồm: 01 chiếc Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ màu vàng và 01 chiếc Điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, vỏ màu trắng. Đây là vật dụng các bị cáo dùng vào việc rủ nhau đi mua ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 02 sim điện thoại số 0989.021.36x; 0963.767.47x xét không còn giá trị sử dụng nên cần tich thu tiêu hủy

Đối với số tiền 5.200.000 đồng do mỗi bị cáo T và A nộp tại cơ quan thi hành án thị xã T. cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 99B1-312.9x; số máy: HC12B7258619; số khung: 1250FY259171 mà Ngô Phú T chở Nguyễn Văn A đi

mua ma túy. Qua điều tra xác định đây là chiếc xe của ông Ngô Kế Lượng, sinh năm 1953; HKTT: thôn H, xã G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (bố của bị can T) cho T mượn. Khi cho T mượn xe ông Lượng không biết việc T sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Lượng chiếc xe trên là phù hợp.

Liên quan trong vụ án có người thanh niên đã mua ma túy tại ngôi nhà nơi An và T đã mua ma túy và người trong ngôi nhà có cánh cửa sắt đóng kín thuộc khu phố N, phường Đ đã bán ma túy cho An và T. Qúa trình điều tra, A và T khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể, nên cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào có căn cứ sẽ đề nghị xử lý sau là phù hợp.

Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo qui định của pháp luật. Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Ngô Phú T, Nguyễn Văn A phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Ngô Phú T, Nguyễn Văn A mỗi bị cáo 13 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ tạm giam 07/04/2018. Phạt mỗi bị cáo 5.000.000 đồng

Áp dụng điều 329 BLTTHS: Quyết định tạm giam bị cáo Ngô Phú T, Nguyễn Văn A mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng điều 47 BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định, tất cả được đóng gói niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh;

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 02 chiếc Điện thoại di động gồm: 01 chiếc Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ màu vàng và 01 chiếc Điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, vỏ màu trắng.

Tich thu tiêu hủy 02 sim điện thoại số 0989.021.36x; 0963.767.47x

Tạm giữ của mỗi bị cáo T và A số tiền 5.200.000 đồng nộp tại cơ quan thihành án thị xã T để bảo đảm thi hành án.

Áp dụng 135 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Bị cáo Ngô Phú T và bị cáo Nguyễn Văn A mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


51
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 220/2018/HSST ngày 20/09/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

Số hiệu:220/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Từ Sơn - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về