Bản án 220/2017/HSPT ngày 07/08/2017 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK LĂK

BẢN ÁN 220/2017/HSPT NGÀY 07/08/2017 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 07/8/2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 197/2017/HSPT ngày 03/7/2017 đối với bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Cố ý gây thương tích”. Do có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 25/2017/HSST ngày 30/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đăk Lăk.

Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:

NGUYỄN VĂN N, sinh 1964 tại N; trú thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đăk Lăk; nghề nghiệp làm nông; trình độ học vấn 7/10; con ông Nguyễn Văn B (chết) và bà Ngô Thị T (chết); vợ là Phạm Thị V và 03 con, con lớn nhất sinh 1985, con nhỏ nhất sinh 1990; tiền sự, tiền án không; bị cáo tại ngoại có mặt.

Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo hoặc liên quan đến kháng cáo:

-Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn N: Bà Phạm Thị V; trú thôn T, xã E, huyện K, là vợ bị cáo; có mặt.

-Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Võ Đình D, Luật sư, Văn phòng Luật sư THT-Chi nhánh Đ, xã E, TP.B, Đoàn Luật sư Đăk Lăk; có mặt.

-Người bị hại: Cháu Nguyễn Bá Đ, sinh 2007; trú thôn T, xã E, huyện K; có mặt.

-Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Bá Đ: Anh Nguyễn Văn Đ, chị Hoàng Thị H; trú thôn T, xã E, huyện K, là bố mẹ bị hại; đều có mặt.

-Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Phùng Văn H, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đăk Lăk; có mặt.

-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Quốc T; trú thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đăk Lăk; có mặt.

-Người làm chứng:

1.Anh Nguyễn Duy A; trú thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đăk Lăk; vắng mặt.

2.Anh Hoàng Đức H; trú thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đăk Lăk; vắng mặt.

3.Anh Nguyễn Quốc T; trú thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đăk Lăk; có mặt.

4.Anh Trần Bá C; trú thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đăk Lăk; vắng mặt.

NHẬN THẤY

Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, nội dung vụ án như sau:

Nguyễn Văn N là đối tượng bị bệnh tâm thần phân liệt từ năm 2006, gia đình Nguyễn Văn N và vợ chồng anh Nguyễn Văn Đ, chị Hoàng Thị H có mâu thuẫn do tranh chấp đất đai.

Khoảng 13h 30’ ngày 06/12/2014, vợ chồng anh Đ, chị H đang hốt cà phê ở sân nhà mình, thì N đến đứng cạnh hàng rào trên lô đất đang tranh chấp, lời qua tiếng lại với anh Đ, chị H, N dùng ná cao su bắn 01 mũi tên bằng kim loại về phía anh Đ, chị H nhưng không trúng. Sau đó, N lấy 01 mũi tên bằng kim loại ngắm bắn trúng vào trán cháu Nguyễn Bá Đ, sinh 2007 đang giúp bố mẹ là anh Đ, chị H hốt cà phê. Cháu Đ được gia đình đưa đến bệnh viện Đa khoa tỉnh Đăk Lăk cấp cứu, điều trị, còn N bỏ trốn.

-Vật chứng thu giữ: 04 mũi tên bằng kim loại.

-Bản kết luận pháp y thương tích số 43 ngày 11/12/2015 của Trung tâm pháp y Đăk Lăk kết luận: Nguyễn Bá Đ bị nứt sọ trán, vật tác động cứng, nhọn, tỷ lệ thương tích 20% (BL 44).

-Bản kết luận pháp y tâm thần số 01 ngày 02/01/2015 của Bệnh viện tâm thần tỉnh Đăk Lăk kết luận: Nguyễn Văn N bị bệnh tâm thần từ năm 2006, loại bệnh tâm thần phân liệt (Mã số bệnh F20) (BL 46-47).

-Bản kết luận pháp y tâm thần số 96 ngày 25/11/2016 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên kết luận:

+Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện tại bị bệnh tâm thần biệt định (F20.3-ICD10).

+Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, trong, sau khi gây án và hiện tại hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2017/HSST ngày 30/5/2017, Tòa án nhân dân huyện Krông Năng đã quyết định:

1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm n, p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999, khoản 1 Điều 1 Nghị Quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội, điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị Quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, điểm x khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015.

Xử phạt Nguyễn Văn N 02 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2.Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 42 BLHS, các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải bồi thường cho người bị hại Nguyễn Bá Đ chi phí điều trị và chi phí hợp lý khác là 37.398.505 đồng.

Trường hợp bị cáo không có tài sản hoặc tài sản không đủ để bồi thường thì người đại diện hợp pháp của bị cáo là bà Phạm Thị V phải bồi thường cho người bị hại toàn bộ hoặc phần còn thiếu.

Áp dụng Điều 357 BLDS để tính lãi suất trong giai đoạn thi hành án dân sự khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 12/6/2017, bà Phạm Thị V là người đại diện hợp pháp của bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo; đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận gia đình bị cáo đã bồi thường trước 3.000.000 đồng và giảm tiền bồi thường cho bị hại.

Ngày 14/6/2017, chị Hoàng Thị H là người đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt bị cáo và tăng tiền bồi thường cho bị hại.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa của bị cáo cho rằng, giữa gia đình bị cáo và gia đình bị hại có mâu thuẫn do tranh chấp đất đai, không được giải quyết. Bị cáo là đối tượng bị bệnh tâm thần phân liệt từ năm 2006, trước, trong, sau khi gây án và hiện tại hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo phạm tội một phần bị kích động về tinh thần do bố mẹ cháu Đ chửi bới, thách thức. Sau khi phạm tội, gia đình bị cáo đã bồi thường 3.000.000đ, mặc dù gia đình bị hại không thừa nhận, nhưng có xác nhận của người làm chứng. Vì vậy, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm, áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, đ khoản 1 Điều 46 BLHS và cho bị cáo được hưởng án treo quy định tại Điều 60 BLHS.

Người đại diện hợp pháp của người bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử phạt tù bị cáo để phòng ngừa tội phạm và tăng tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Lăk cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 BLHS là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét mức hình phạt bị cáo 02 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại 1.050.000 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại b khoản 1 Điều 46 BLHS. Tuy nhiên, người đại diện hợp pháp của bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo và người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu tăng hình phạt bị cáo là không có căn cứ. Cần giữ nguyên mức hình phạt tù đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét đầy đủ chi phí tiền thuốc điều trị và khoản tiền thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc bị hại sau khi ra viện, nên cần tăng mức bồi thường thiệt hại các khoản nêu trên. Do đó, người đại diện hợp pháp của bị cáo kháng cáo xin giảm mức bồi thường thiệt hại là không có căn cứ và người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại là có căn cứ. Người đại diện hợp pháp của bị cáo cho rằng đã tự nguyện bồi thường cho bị hại 3.000.000đ, nhưng không được gia đình bị hại thừa nhận, cũng không có chứng cứ để chứng minh, nên không có căn cứ để chấp nhận.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248 BLTTHS, Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo và chấp nhận một phần kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại. Sửa bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét dầy đủ toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn N tại phiên tòa phúc thẩm cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người liên quan, người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Khoảng 13 h 40’ ngày 06/12/2014, tại thôn T, xã E, huyện K, bị cáo Nguyễn Văn N đã dùng ná cao su tự chế bắn 01 mũi tên bằng kim loại trúng vào trán Nguyễn Bá Đ, sinh 2007 gây thương tích 20%.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 BLHS là có căn cứ.Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo 02 năm tù là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại 1.050.000 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại b khoản 1 Điều 46 BLHS. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội với hai tình tiết định khung tăng nặng là dùng hung khí nguy hiểm và đối với trẻ em được quy định tại điểm a, d khoản 1 Điều 104 BLHS, nên cần có mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Do đó, người đại diện hợp pháp của bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo và người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu tăng hình phạt là không có căn cứ. Cần giữ nguyên mức hình phạt tù đối với bị cáo của bản án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa của bị cáo cho rằng, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại 3.000.000đ, nhưng không có chứng cứ để chứng minh, không được gia đình bị hại thừa nhận nên không có căn cứ để chấp nhận.

Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào hóa đơn, chứng từ có trong hồ sơ vụ án để xem xét các khoản chi phí hợp lý điều trị thương tích của bị hại. Tuy nhiên, tiền thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc bị hại sau khi ra viện chưa được tính đầy đủ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ xem xét và buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại chi phí điều trị và chi phí hợp lý khác các khoản tiền như sau:

-Chi phí tiền thuốc điều trị, viện phí: 3.598.505 đồng.

-Tiền thuê phương tiện đi lại điều trị: 2.600.000 đồng.

-Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe: 10.000.000đ.

-Tiền thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc bị hại điều trị tại bệnh viện là 6 ngày và sau điều trị là 60 ngày, mỗi ngày 200.000đ; 66 ngày x 200.000đ = 13.200.000 đồng.

-Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm tương đương 16,5 tháng lương cơ bản do Nhà nước quy định: 20.000.000 đồng.

-Tổng cộng: 49.398.505 đồng.

-Ghi nhận gia đình bị cáo tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại 1.050.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 11351 ngày 04/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K. Chi cục Thi hành án dân sự huyện K có trách nhiệm trả cho bị hại Nguyễn Bá Đ 1.050.000 đồng.

-Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Bá Đ chi phí điều trị và chi phí hợp lý khác là 49.398.505 đồng, nhưng được khấu trừ đã bồi thường 1.050.000 đồng; bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại 48.348.505 đồng.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo và chấp nhận một phần kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại. Sửa bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự.

-Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự, nên phải xác định lại án phí dân sự sơ thẩm, cụ thể: Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 48.348.505 đồng x 5% = 2.417.425 đồng.

-Về án phí hình sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo, nên người đại diện hợp pháp của bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248, khoản 3 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự.

1.Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo.

2.Chấp nhận một phần kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại.

Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 25/2017/HSST ngày 30/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng về trách nhiệm dân sự.

Áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm b, n, p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999, khoản 1 Điều 1 Nghị Quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội, điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị Quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, điểm x khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015.

Xử phạt NGUYỄN VĂN N 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3.Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 42 BLHS, các Điều 584, 585, 586, 590 BLDS.

-Ghi nhận gia đình bị cáo Nguyễn Văn N tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Bá Đ 1.050.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 11351 ngày 04/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K. Chi cục Thi hành án dân sự huyện K có trách nhiệm trả cho bị hại Nguyễn Bá Đ 1.050.000 đồng.

-Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Bá Đ chi phí điều trị và chi phí hợp lý khác là 49.398.505 đồng, nhưng được khấu trừ đã bồi thường 1.050.000 đồng; bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại 48.348.505 đồng.

Trường hợp bị cáo không có tài sản hoặc tài sản không đủ để bồi thường thì người đại diện hợp pháp của bị cáo là bà Phạm Thị V phải bồi thường cho người bị hại toàn bộ hoặc phần còn thiếu.

Áp dụng khoản 2 Điều 357 BLDS năm 2015 để tính lãi suất trong giai đoạn thi hành án dân sự, khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án.

4.Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 2.417.425 đồng.

5.Về án phí hình sự phúc thẩm: Người đại diện hợp pháp của bị cáo là bà Phạm Thị V phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng.

6.Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


159
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về