Bản án 218/2017/HSST ngày 08/08/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - TP HÀ NỘI

BẢN ÁN 218/2017/HSST NGÀY 08/08/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Hôm nay, ngày 8 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường TL – quận H - Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 280 /2017/ HSST ngày 21 tháng 7 năm 2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 289/2017/QĐ – ST ngày 23/7/2017 đối với bị cáo:

Quàng Văn V, Sinh năm:199X; ĐKHKTT: Bản C, xã QN, huyệnTG,tỉnh Điện Biên; Chỗ ở: Không cố định;Nghề nghiệp: không;Văn hóa: 9/12;Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc:Kinh;Tôn giáo: không; Con ông: Quàng Văn C và bà: Lường Thị X;Tiền án, tiền sự : Không; Bị bắt quả tang ngày 19/04/2017, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội; Số giam 2558 P1, buồng giam 8; Danh chỉ bản số 272 lập ngày 19/4/2017 tại Công an quận H, Thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên toà

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Do nghiện ma túy nên khoảng 12 h ngày 19/4/2017 Quàng Văn V đi bộ đến khu vực đầu ngõ 459 BM, quận H, thành phố Hà Nội gặp và mua của một phụ nữ không quen biết 2 đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu bên trong chứa ma túy với giá 200.000 đồng. Sau đó V cầm số ma túy vừa mua được ở lòng bàn tay phải rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến trước cửa nhà số 16 TĐ thì V bị tổ công tác công an phường TĐ kiểm tra hành chính thu giữ được số ma túy nêu trên Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận H tiến hành trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của V .

Tại bản kết luận giám định số 3092 ngày 24/5/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: 2 đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất bột màu trắng là heroin trọng lượng 0,176 gam Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho V ngày 19/4/2017 do V không biết nhân thân lai lịch vì vậy cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật Hình sự công an Thành phố Hà Nội Tại cơ quan điều tra, bị can khai nhận hành vi tội phạm như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 219/ CT/ VKS -HS ngày 19 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận H – Thành phố Hà Nội đã truy tố Quàng Văn V về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như tại cơ quan điều tra và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát kết luận phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Quàng Văn V phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng khoản 1 điều 194, điểm p khoản 1 điều 46 Bộ Luật Hình sự xử phạt bị cáo V với mức án từ 18 đến 24 tháng tù, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý thu giữ của V. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H - thành phố Hà Nội , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi , quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp Lời khai nhận tội của bị cáo Quàng Văn V tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Vậy có đủ cơ sở kết luận : Khoảng 12 h 25 ngày 19/4/2017 tại khu vực trước cửa nhà số 16 TĐ, phường TĐ, quận H, thành phố Hà Nội Quàng Văn V đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,176 gam Heroin Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về việc quản lý chất ma tuý. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý.Tại phiên toà bị cáo Quàng Văn V đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Quàng Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận H - Thành phố Hà Nội truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đặc biệt là trong tình hình hiện nay, khi mà tệ nạn ma tuý đang là vấn đề nhức nhối của xã hội, bởi chất ma tuý là chất gây tác hại rất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm, tạo nên sự bất ổn định của tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Do đó cần thiết phải áp dụng một hình phạt thật nghiêm khắc, đủ dài để cho các bị cáo có cơ hội để đoạn tuyệt với ma tuý, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian.Viện kiểm sát nhân dân quận H đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo V từ 18 đến 24 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, Bởi vậy Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 33 của Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử áp dụng Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 và công văn 276 ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân Tối Cao về việc áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ Luật Hình sự  2015 để xem xét hình phạt. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo V đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi. Do đó cần cho bị cáo V hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự.

Theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định,điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo * Về xử lý vật chứng:

Hội đồng xét xử áp dụng điều 41 Bộ luật hình sự ; Điểm a, khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự :

- Tịch thu tiêu huỷ 0,176 gam Heroin * Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo Quàng Văn V phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194;điều 33; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Áp dụng Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 và công văn 276 ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân Tối Cao Xử phạt bị cáo Quàng Văn V 18 ( Mười tám ) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 19/4/2017. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự Tịch thu tiêu huỷ vật chứng gồm là 0,176 gam Heroin thu giữ của bị cáo đã được niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Quàng Văn V Vật chứng trên hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự quận H- Thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng số TV 275 / 17 ngày 14/7/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H -Thành phố Hà Nội và Chi cục thi hành án dân sự quận H - Thành phố Hà Nội.

* Về án phí:

Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự ; điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Buộc bị cáo Quàng Văn V phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo:

Áp dụng các điều 231,234 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.


87
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về