Bản án 217/2019/HS-ST ngày 08/11/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 217/2019/HS-ST NGÀY 08/11/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 08 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 228/2019/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 228/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Tuấn A, sinh ngày 14/02/1993 tại tỉnh Vĩnh Long. Nơi ĐKHKTT: Khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L và bà Nguyễn Thị Cà T.

Tiền án: 02 tiền án;

- Ngày 22/6/2011, bị Tòa án nhân huyện Bình Minh (nay là thị xã Bình Minh), tỉnh Vĩnh Long xử phạt 02 năm tù về Tội trộm cắp tài sản quy định tại điểm a khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 theo Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2011/HSST.

- Ngày 09/9/2011, bị Tòa án nhân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xử phạt 01 năm tù về Tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 theo Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2011/HSST.

Ngày 03/11/2011, Tòa án nhân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ ra Quyết định số 145 Tổng hợp hình phạt của nhiều Bản án, thi hành án hình phạt tù đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2011/HSST của Tòa án nhân huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long và Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2011/HSST của Tòa án nhân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ buộc Trần Tuấn A phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 năm tù. Ngày 27/02/2014, A chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 16/5/2008, bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào trường giáo dưỡng theo Quyết định số 1484/QĐ-UB-NC ngày 19/05/2008 của UBND huyện Bình Minh (nay là thị xã Bình Minh), tỉnh Vĩnh Long, thời hạn chấp hành quyết định là 12 tháng, ngày 19/5/2009 bị cáo đã chấp hành xong quyết định.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/5/2019 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

Người làm chứng: Bà Phạm Thị Kim N; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 06/5/2019, trong lúc Trần Tuấn A đang ở phòng trọ số XY của khu nhà trọ Nguyễn Thị H, địa chỉ tại khu X, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì A nảy sinh ý định đi mua ma túy về sử dụng nên A thuê xe ôm chở A đến khu vực xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy. Tại đây, A gặp người nam (Không rõ nhân thân, lai lịch) và hỏi mua ma túy với số tiền 500.000 (Năm trăm ngàn) đồng thì người nam đưa cho A 01 gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất ma túy rồi nhận số tiền 500.000 (Năm trăm ngàn) đồng của A. Lúc này, A cất gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất ma túy vào trong túi quần rồi A thuê xe ôm chở A về phòng trọ số 02 của khu nhà trọ Nguyễn Thị H. Tại phòng trọ số XY, A lấy một ít ma túy trong gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất ma túy ra sử dụng, số ma túy còn lại trong gói nylon A dán vào phía dưới tấm mủ màu đen dùng để gắn điện thoại di động được để trên bàn gỗ nhỏ trong phòng trọ so XY. Đến khoảng 13 giờ 10 phút ngày 07/5/2019, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Bình Dương phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố Thủ Dầu Một và Công an phường H, thành phố T tiến hành kiểm tra hành chính khu nhà trọ Nguyễn Thị H, địa chỉ tại khu X, phường H, thành phố T, tỉnh bình Dương. Qua kiểm tra phòng trọ số XY của Trần Tuấn A và bạn gái cùng phòng là chị Phạm Thị Kim N phát hiện 01 (Một) gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất ma túy được dán ở phía dưới tấm mủ màu đen dùng để gắn điện thoại di động được để trên bàn gỗ nhỏ trong phòng trọ số XY. Qua làm việc, A khai nhận 01 (Một) gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy của A mua và cất giấu ở phía dưới tấm mủ màu đen dùng để gắn điện thoại di động chị N không biết nên Công an phường H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Tuấn A về hành vi Tàng trữ trái phép 01 (Một) gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và thu giữ vật chứng gồm: 01 (Một) gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng.

Căn cứ Kết luận giám định số 366 ngày 09/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận: 01 (Một) gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong bì thư có chữ ký người bị bắt Trần Tuấn A, cán bộ niêm phong Nguyễn Công K và hình dấu đỏ Công an phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,7707 gam. Sau giám định: 01 (Một) gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng được niêm phong có khối lượng: 0,5445 gam.

Đối với người nam đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Trần Tuấn A. Quá trình điều tra xác định: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 06/5/2019, Trần Tuấn A thuê xe ôm chở A đến khu vực xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh trực tiếp gặp người nam (Không biết rõ họ tên, nhân thân, lai lịch) để mua ma túy. Do A không biết rõ họ tên, nhân thân, lai lịch của đối tượng bán trái phép chất ma túy cho A và A không biết đối tượng cư trú ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một không có căn cứ để xác minh, điều tra xử lý đối với đối tượng đã bán ma túy cho A.

Đối với chị Phạm Thị Kim N là người ở cùng với Trần Tuấn A khi A bị lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra xác định, chị N sống chung với Trần Tuấn A tại phòng trọ số XY thuộc khu nhà trọ Nguyễn Thị H. Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 06/5/2019 đến khoảng 13 giờ 10 phút ngày 07/5/2019, Trần Tuấn A có hành vi Tàng trữ 01 gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất ma túy nhưng chị N không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một không đề cập xử lý đối với N.

Đối với 01 (Một) gói nylon hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng sau giám định là: 0,5445 gam thu giữ của Trần Tuấn A, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy.

Cáo trạng số 246/CT-VKS-HS ngày 18/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Trần Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần luận tội giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư niêm phong có chữ ký của người bị bắt Trần Tuấn A, cán bộ niêm phong Nguyễn Công K và hình dấu đỏ công an phường H, thành phố T. Bên trong chứa 01 gói nylon chứa ma túy, trọng lượng sau giám định 0,5445 gam theo kết luận giám định số 366/PC09 ngày 09/05/2019 là tang vật của vụ án.

Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với Viện Kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và mức hình phạt đã đề nghị. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khỏi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản niêm phong, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 07/5/2019, Trần Tuấn A đã bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Bình Dương phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố Thủ Dầu Một và Công an phường H, thành phố T kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép 0,7707 gam ma túy, loại Methamphetamine tại phòng số XY của khu nhà trọ Nguyễn Thị H, địa chỉ tại khu X, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do vậy hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong mọi tầng lớp. Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm hình sự khác. Bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý. Đây là tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ phạm tội cũng như tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 (một) bì thư niêm phong có chữ ký của người bị bắt Trần Tuấn A, cán bộ niêm phong Nguyễn Công K và hình dấu đỏ Công an phường H, thành phố T. Bên trong chứa 01 gói nylon chứa ma túy, trọng lượng sau giám định 0,5445 gam theo kết luận giám định số 366/PC09 ngày 09/05/2019 là tang vật của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 106, 136, 260, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2/ Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Tuấn A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/5/2019.

3/ Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thu niêm phong có chữ ký của người bị bắt Trần Tuấn A, cán bộ niêm phong Nguyễn Công K và hình dấu đỏ Công an phường H, thành phố T. Bên trong chứa 01 gói nylon chứa ma túy, trọng lượng sau giám định 0,5445 gam theo kết luận giám định số 366/PC09 ngày 09/05/2019.

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 012.20 ngày 21/10/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Công an thành phố Thủ Dầu Một).

4/ Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


26
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 217/2019/HS-ST ngày 08/11/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:217/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Dầu Một - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:08/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về