Bản án 216/2018/HSPT ngày 29/05/2018 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 216/2018/HSPT NGÀY 29/05/2018 VỀ TỘI TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Ngày 29 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 165/HSPT ngày 20/4/2018 đối với bị cáo Trịnh Nhựt T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2018/HSST ngày 14/03/2018 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Trịnh Nhựt T; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1981, tại tỉnh Đồng Tháp; Thường trú: Tổ 12 Ấp Thạnh An, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Văn G và bà Lâm Thị E; Hoàn cảnh gia đình: có vợ Võ Thị Quế A và 01 con (sinh năm 2002); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 07/9/2007, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt bị cáo T 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo bản án số: 212/HSST (Đã được xóa án tích).

Bị cáo tại ngoại - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 10 phút, ngày 09/11/2017, Huỳnh Ngọc Tú đi bộ từ nhà đến đường Nguyễn Văn Khạ thuộc ấp 2, xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi. Tú phát hiện nhà bà Nguyễn Thị Hồng có dựng chiếc xe máy biển số: 59Y2-420.38 trước sân nhà có cắm sẵn chìa khóa trên xe, Tú lén lút chiếm đoạt xe máy biển số: 59Y2-420.38 trị giá 13.000.000 đồng bán cho Trịnh Nhựt T. Khi bán Tú nói với T xe này vừa lấy trộm được, bán với giá 2.500.000 đồng, T biết rõ tài sản Tú bán cho T là tài sản do trộm cắp mà có nhưng T vẫn mua đem về nhà tháo biển số đi cất giấu. Ngày 10/11/2017, Công an kiểm tra nhà T phát hiện và thu giữ xe trên. Ngày 12/11/2017, Công an xã Phạm Văn Cội bắt được Tú, qua làm việc Tú và T khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Ngày 13/11/2017, tại trụ sở Công an xã Trung An, Huỳnh Ngọc Tú lợi dụng sơ hở đã lén lút trộm chiếc xe máy biển số 54Y6-1258 trị giá 10.000.000 đồng của Nguyễn Duy Nhất, Tú đem xe trên đến bến xe An Sương bán với giá 2.000.000 đồng và tiêu xài hết. Ngày 14/11/2017, Tú bị Công an bắt, qua làm việc Tú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Theo Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Củ Chi thì 01 chiếc xe gắn máy, biển số: 54Y6-1258 có giá trị 10.000.000 đồng; 01 chiếc xe gắn máy, biển số: 59Y2-420.38 có giá trị 13.000.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2018/HSST ngày 14/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trịnh Nhựt T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 250; điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999: Xử phạt: Trịnh Nhựt T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Huỳnh Ngọc Tú phạm tội “Trộm cắp tài sản” và giải quyết về phần dân sự, vật chứng, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/3/2018 bị cáo Trịnh Nhựt T có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng bị cáo Trịnh Nhựt T bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là đúng người, đúng tội.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Trịnh Nhựt T có đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ.

Xét thấy, bị cáo Trịnh Nhựt T có hành vi mua chiếc xe máy biển số: 59Y2-420.38 của bị cáo Huỳnh Ngọc Tú với giá 2.500.000 đồng khi biết rõ chiếc xe máy này là tài sản do trộm cắp mà có. Sau đó bị cáo mang xe về nhà tháo biển số: 59Y2-420.38 đi cất giấu. Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự để xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự là không phù hợp với quy định của pháp luật, nhưng mức hình phạt 06 (sáu) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo là thỏa đáng, không nặng. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ nào mới để có thể xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Vì vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Nhựt T mà giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Trịnh Nhựt T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 250; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Xử phạt: bị cáo Trịnh Nhựt T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trịnh Nhựt T khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với bản án sơ thẩm đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Trịnh Nhựt T biết rõ chiếc xe gắn máy, biển số: 59Y2-420.38 của bị cáo Huỳnh Ngọc Tú là tài sản do phạm tội mà có nhưng vẫn mua về để sử dụng nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 250 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/3/2018 bị cáo Trịnh Nhựt T có đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ.

Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận thấy:

Bị cáo Trịnh Nhựt T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 250 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo T 06 (sáu) tháng tù.

Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy: Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trịnh Nhựt T không xuất trình thêm tình tiết nào mới để Hội đồng xét xử có căn cứ cho bị cáo được hưởng án treo. Vì vậy, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc giữ nguyên mức hình phạt 06 (sáu) tháng tù đối với bị cáo T là phù hợp.

Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Nhựt T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo Trịnh Nhựt T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Nhựt T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Trịnh Nhựt T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 250; điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Xử phạt: Trịnh Nhựt T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


136
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 216/2018/HSPT ngày 29/05/2018 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

    Số hiệu:216/2018/HSPT
    Cấp xét xử:Phúc thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:29/05/2018
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về