Bản án 216/2017/HS-ST ngày 19/12/2017 về tội môi giới mại dâm

 TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 216/2017/HS-ST NGÀY 19/12/2017 VỀ TỘI MÔI GIỚI MẠI DÂM

Trong ngày 19 tháng 12 năm 2017, tại Tòa án nhân dân quận B, thành phố HàNội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 203/2017/HSST ngày 23/11/2017 đối với bị cáo:

NGUYỄN THỊ HÀ T - sinh năm 1987; HKTT: Tổ 21, phường H, thành phố T; tỉnh Tuyên Quang; Nơi ở: Ngách 76, ngõ T 1, quận Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Nguyễn X Q; Họ tên mẹ: Phạm Thị D (đã chết); Họ tên chồng Trần Văn H và có 01 con sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: có 01 tiền án tiền sự (đã xóa án tích)

- Theo bản án số 99 ngày 30/9/2008 của TAND thị xã T, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng về tội đánh bạc. Xác minh thi hành án phần dân sự chấp hành xong ngày 07/11/2008;

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 10/8/2017; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 40 ngày 10/8/2017, tổ công tác Đội cảnh sát hình sự Công an quận B tiến hành kiểm tra hành chính nhà nghỉ Anh Đào tại số 02 ngõ 58 Đ, C, B, Hà Nội. Qua kiểm tra Công an phát hiện bắt quả tang 02 đôi nam nữ đang có hành vi mua bán mại dâm:

- Tại phòng 301: Khách mua dâm là Phan Minh P và gái bán dâm Trần ThịThanh X .

- Tại phòng 401: Khách mua dâm là Lê Đức M và gái bán dâm Nguyễn Thị Hà T

* Vật chứng thu giữ gồm:

-Thu của Phan Minh P 01 bao cao su nhãn hiệu Eros đã qua sử dụng;

- Thu giữ của X 01 điện thoại di động Iphone 6.

- Thu của Lê Đức M 01 điện thoại Nokia 1110i;

- Thu của Nguyễn Thị Hà T số tiền 4.000.000 đồng (Tiền mua dâm P và M trả cho T và X), 01 bao cao su nhãn hiệu Eros đã qua sử dụng và 01 điện thoại Nokia màu đen. Công an quận B đã đưa T, X, P và M cùng vật chứng về trụ sở Công an quận B để giải quyết.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Hà T khai: Khoảng 16h00 ngày 10/8/2017, Lê Đức M liên lạc với Nguyễn Thị Hà T qua số điện thoại 01686768964 và rủ T mua bán dâm. T đồng ý thì M bảo T rủ thêm một người nữa để đi chơi cùng M và P. M và T thỏa thuận số tiền bán dâm là 2 triệu đồng một người. Sau đó, T gọi điện cho X để rủ X đi bán dâm cùng T. X đồng ý thì T hẹn X đến khu vực Đ. Tại đây, T, X gặp P và M ở khu vực ngõ 111 Đ rồi cùng nhau đi ăn. Đến khoảng 19h00 cùng ngày, M, P, T và X đi vào nhà nghỉ Anh Đào tại số 2 ngõ 58 Đ, C, B, Hà Nội thuê phòng 301 và

401 để thực hiện hành vi mua, bán dâm. Khi bốn người lên phòng 301 ngồi chơi một lúc để chờ dọn phòng 401, tại đây, P và M đưa cho T 4.000.000 đồng tiền mua bán dâm của X và T, T cầm toàn bộ số tiền nói X và bảo X khách đã trả tiền, sau khi bán dâm xong thì T sẽ đưa tiền cho X. Nhận tiền xong, T và M lên phòng 401 còn X và P ở phòng 301 để thực hiện hành vi mua bán dâm. Đến khoảng 19h40 cùng ngày khi các đối tượng đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị tổ công tác Đội cảnh sát hình sự Công an quận B bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Lời khai của Nguyễn Thị Hà T phù hợp với lời khai của khách mua dâm, gái bán dâm, hiện trường vụ án và vật chứng thu giữ được.

- Đối với Phan Minh P và Lê Đức M có hành vi mua dâm vi phạm khoản 1 điều 22 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng.

- Đối với Nguyễn Thị Hà T và Trần Thị Thanh X có hành vi bán dâm vi phạm khoản 1 điều 23 Nghị định 167/2013/ CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng.

- Đối với vật chứng là 02 bao cao su đã qua sử dụng, Cơ quan điều tra đã tiến hành lập biên bản tiêu hủy.

- Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 6 và Nokia 1110i thu giữ của Trần Thị Thanh X và Lê Đức M, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho X và M.

- Qua điều tra xác định, nhà nghỉ Anh Đào có địa chỉ số 02 ngõ 58 Đ, C, B, Hà Nội do anh Nguyễn Bình Yên là chủ nhà nghỉ không biết việc các đối tượng T, X, M, P thuê nhà nghỉ để thực hiện hành vi mua bán dâm nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Tại bản cáo trạng số 208/CT-VKS ngày 17/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận B, bị cáo Nguyễn Thị Hà T bị truy tố về tội Môi giới mại dâm theo khoản 1 điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Hà T khai nhận toàn bộ hành vi môi giới mại dâm đối với T và X vào ngày 10/8/2017. Bị cáo thừa nhận việc bị truy tố, xét xử về tội môi giới mại dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi cũng như nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 255, điểm p khoản 1 điều 46, điều 33, điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thị Hà T từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu xung quỹ nhà nước số tiền 4.000.000 đồng vàchiếc điện thoại Nokia màu đen thu giữ của T.

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền .

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu quan điểm của Kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có có ý kiến hoặc không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ, đấy đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 19h40 ngày 10/8/2017, tại phòng 301 và 401 nhà nghỉ Anh Đào, địa chỉ: Số 02 ngõ 58 Đ, phường C,quận B,thành phố Hà Nội bị cáo Nguyễn Thị Hà T đã có hành vi môi giới cho Trần Thị Thanh X bán dâm cho Phan Minh P, T đi bán dâm cho Lê Đức M với số tiền thỏa thuận 2.000.000 đồng / một người. Sau khi thỏa thuận T, X, M, P đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự Công an quận B, kiểm tra bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Môi giới mại dâm”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, đạo đức xã hội, nếp sống văn minh, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, và là nguyên nhân lây truyền các bệnh như giang mai, HIV AIDS. Bị cáo nhận thức được hành vi môi giới mại dâm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội với mục đích kiếm tiền nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả hành vi cũng như nhân thân bị cáo mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình . Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: - Đối với số tiền 4.000.000 đồng thu giữ của T, đây là số tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Chiếc điện thoại Nokia màu đen thu giữ của T có liên quan đến vụ án, nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định tại Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hà T phạm tội “Môi giới mại dâm”

Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm p khoản 1 điều 46, Điều 33, Điều 41 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 76, Điều 99, Điều 231, Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự;Áp dụng Luật phí và lệ phí 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hà T 09 (chín tháng) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/08/2017.

-Vật chứng vụ án: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu đen và số tiền 4.000.000đồng( Bốn triệu đồng) . Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận B đang quản lý theo biên bản bàn giao vật chứng số 19 ngày08/11/2017 và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 08/11/2017.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. 


78
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về