Bản án 216/2017/DS-PT ngày 07/09/2017 về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 216/2017/DS-PT NGÀY 07/09/2017 VỀ TRANH CHẤP RANH GIỚI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Trong các ngày 11 tháng 8 và ngày 07 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý 66/2017/TLPT-DS ngày 22 tháng 5 năm 2017 về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2017/DS-ST ngày 14/4/2017 của Tòaán nhân dân  thành phố S, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2017/QĐPT-DS ngày 30 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lại Thị Lệ T, sinh năm 1971; địa chỉ: Số 09, khóm 1, phường 1, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Lại Quốc T1, sinh năm 1960; địa chỉ: Số 239, khóm 1, phường 1, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Lê Bình A, Luật sư của Văn phòng Luật sư Lê Bình A, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Bà Lê Thị Tuyết H, sinh năm 1955; địa chỉ: Số 517, khóm 2, phường 1, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Lê Kim C, sinh năm 1967; địa chỉ:số 517B, khóm 2, phường 1, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :

3.1. Ông Tô Văn P, sinh năm 1951

3.2. Bà Lê Kim H1, sinh năm 1950

Cùng địa chỉ: Số 53/2, ấp K, xã Q, thành phố S , Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tô Văn P, sinh năm 1951. (theo giấy ủy quyền ngày 17/10/2016).

3. Ủy ban nhân dân thành phố S.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H2, chức vụ Phó Chủ tịch UBND thành phố S (theo giấy ủy quyền ngày 09/8/2016) (có đơn xin vắng mặt).

4. Người kháng cáo: Chị Lại Thị Lệ T là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn chị Lại Thị Lệ T ủy quyền anh Lại Quốc T1 trình bày: Ngày 17/4/2012 chị T thỏa thuận chuyển nhượng phần đất diện tích 124,5m2  tại thửa số 108, tờ bản đồ sồ 24 do ông Tô Văn P và bà Lê Kim H1 đứng tên tọa lạc tại khóm 2, phường 1, thành phố S. Hai bên có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, có chứng thực của Phòng công chứng Nhà nước số 02 tỉnh Đồng Tháp. Do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông P, bà H1 đã được cấp theo lưới tọa độ nên khi chuyển nhượng hết thửa đất cơ quan chuyên môn không tiến hành đo đạc cụ thể và ký giáp ranh. Ngày 08/5/2012, chị T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 124,5m2  tại thửa số 108, tờ bản đồ số 24. Năm 2015, khi chị T chuẩn bị xây nhà thì phía bà H kéohàng  rào lấn qua phần đất của chị.

Nay chị T yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất với bà H cụ thể theo các mốc 1-2-3-4 theo sơ đồ đo đạc ngày 11/3/2016 của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố S. Đường nối các mốc 1-2-3-4 là ranh giới quyền sử dụng đất giữa chị T và bà H. Phần đất thuộc các mốc 1-2-3-4-5-7-8-9- 1 (Hình 1 và Hình 2) có tổng diện tích 119,5m2 là thuộc quyền sử dụng của chị Lại Thị Lệ T. Bà H phải trả diện tích đất lấn chiếm cho chị T là 19,4m2 (thể hiện tại hình 1 mãnh trích đo địa chính số 05-2016 ngày 11/3/2016 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Thành phố S) để chị T được quyền sử dụng. Trường hợp diện tích đất tranh chấp 19,4m2  xác định là của bà H thì chị T cũng không có yêu cầu gì đối với ông P, bà H1. Ngoài ra, anh T1 đại diện ủy quyền của chị T không có yêu cầu gì khác.

- Bị đơn bà Lê Thị Tuyết H ủy quyền chị Lê Kim C trình bày:

Phần đất của bà Lê Thị Tuyết H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14/8/2006 tại thửa số 218, tờ bản đồ số 24, diện tích 124,9m2. Năm 2012 Nhà nước thu hồi 17,3m2 để làm đường V, hiện còn lại 107,6m2. Giáp thửa đất bà H là đất của ông P chuyển nhượng lại cho chị T hiện nay. Trước đây, giữa ông P bà H xác định ranh đất giữa thửa số 218 và thửa 108 là tường nhà của ông P (hiện vẫn còn nền nhà thể hiện từ mốc 9 đến mốc 4 trên mãnh trích đo địa chính số 05-2016 ngày 11/3/2016 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố S).

Nay bà H không đồng ý xác định ranh đất theo yêu cầu của chị T. BàH xác định ranh đất giữa hai bên là từ mốc 9-4 theo mãnh trích đo địa chính số05- 2016 ngày 11/3/2016 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Thành phố S. Theo diện tích đất hình 1 là 19,4m2  thuộc quyền sử dụng của bà H. Do đó không đồng ý trả lại diện tích 19,4m2 (hình 1) theo yêu cầu của chị T. Ngoài ra bà H không có yêu cầu gì khác

 Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Ông Tô Văn P đồng thời là đại diện theo ủy quyền của bà Lê KimH1trình bày :

Ngày 11/01/2007 ông P và vợ là Lê Kim H1được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 271,lm2 tại thửa số 108, tờ bản đồ số 24, tọa lạc tại khóm 2, phường 1, Thành phố S. Nguồn gốc đất là do bà Nguyễn Thị Y (mẹ vợ ông) tặng cho.

Ngày 08/02/2007 ông P bà H1 chuyển nhượng cho ông Trương Hoàng X diện tích đất 128,4m2. Ngày 28/3/2007 ông Vĩnh được cấp giấy chứng nhận QSD đất thửa 236, diện tích 128,4m2. Diện tích đất còn lại của ông P, bà H1 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 142m2.

Ngày 13/10/2011 UBND thị xã (nay là Thành phố S) thu hồi diện tích đất 18,2m2 để xây dựng công trình đường V. Diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông P, bà H1 còn lại 124,5m2.

Ngày 17/4/2012 ông P, bà H1 chuyển nhượng hết phần đất còn lại diện tích 124,5m2  tại thửa 108, tờ bản đồ số 24 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông P, bà H1 cho chị T. Khi chuyển nhượng hai bên đến Phòng công chứng Nhà nước số 2, tỉnh Đồng Tháp ký hợp đồng, diện tích dựa trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện, không tiến hành đo đạc và xác định ranh giới. Tuy nhiên, phần đất ông P, bà H1 sử dụng từ trước đến nay giáp với đất bà H là ngay bức tường nhà của ông. Do đó, khi chuyển nhượng cho chị T thì ông cũng đã chỉ rõ ranh giới giáp đất bà H là bức tường nhà (hiện vẫn còn hiện trạng là nền nhà thể hiện từ mốc 9 đến mốc 4 trên mãnh trích đo địa chính số 05-2016 ngày 11/3/2016 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Thành phố S). Nay ông không có ý kiến và yêu cầu gì đối với việc tranh chấp giữa chị T và bà H và không có trách nhiệm gì đối với phần đất đã chuyển nhượng cho chị T.

+ Ủy ban nhân dân thành phố S ủy quyền cho ông Nguyễn Văn H2 trình bày:Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị Tuyết H, ông Tô Văn P và bà Lại Thị Lệ T là đúng theo trình tự, thủ tục pháp luật qui định, về ranh đất giữa các bên xác định theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích đo đạc thực tế chênh lệch với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do vướng vào quy hoạch đường Nguyễn Văn Phát và sai số giữa các lần đo. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo qui định của pháp luật, Ủy ban không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2017/DS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố S đã quyết định:

Bác yêu cầu của chị Lại Thị Lệ T xác định ranh giới quyền sử dụng đất thửa số 108, tờ bản đồ số 24 của chị T với thửa đất số 218, tờ bản đồ số 24 của bà là từ các mốc 1-2-3-4 và yêu cầu bà Lê Thị Tuyết H trả lại phần đất có diện tích 19,4m2 thể hiện tại các mốc1-2-3-4-9-1(hình1) của mãnh trích đo địa chính số 05- 2016 ngày 11/3/2016 của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng  đất thành phố S.

Xác định ranh giới quyền sử dụng đất thửa số 108, tờ bản đồ số 24 của chị Lại Thị Lệ T và thửa đất số 218, tờ bản đồ số 24 của bà Lê Thị Tuyết H là nối từ các mốc 9 đến mốc 4 làm ranh giới giữa đất chị Lại Thị Lệ T và đất bà Lê Thị Tuyết H. Theo đó, bà Lê Thị Tuyết H được tiếp tục sử dụng diện tích 19,4m2 thể hiện tại các mốc l-2-3-4-9-l (hình 1) thể hiện trên mãnh trích đo địa chính số 05-2016 ngày 11/3/2016 của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố S (có mãnh trích đo địa chính số 05-2016 ngày 11/3/2016 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố S kèm theo).

- Các bên đương sự được quyền đến các cơ quan có thẩm quyền để kê khai, đăng ký, điều chỉnh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Các bên chị Lại Thị Lệ T và bà Lê Thị Tuyết H có quyền và nghĩa vụ sử dụng ranh giới quyền sử dụng đất đã được xác định nêu trên theo chiều thẳng đứng từ dưới mặt đất lên trên không gian theo quy định của pháp luật về ranh giới quyền sử dụng đất.

Án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Lại Thị Lệ T nộp 3.395.000đ án phí dân sự sơ thẩm .

Chị Lại Thị Lệ T đã nộp tiền tạm ứng án phí ngày 02/10/2015 theo biên lai số 036254 số tiền là 400.000đ, ngày 15/12/2016 theo biên lai số 06315 số tiền là 1.300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S, sau khi khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị Lại Thị Lệ T còn phải nộp tiếp 1.695.000đ án phí dân sự sơ thẩm .

Về chi phí thẩm định, định giá:

Chị Lại Thị Lệ T chịu tiền lệ phí đo đạc, thẩm định định giá là 3.492.000đ đã tạm ứng và chi xong .

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn kháng cáo của các đương sự và quyền yêu cầu thi hành án.

Ngày 18/4/2017 chị Lại Thị Lệ T có đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và yêu cầu giải quyết lại theo hướng buộc bà H trả lại 19,4m2 phần đất bà H lấn chiếm của chị thuộc thửa 108, tờ bản đồ số 24.

- Tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Chị Lại Thị Lệ T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm và yêu cầu giải quyết lại theo hướng buộc bà H trả lại 19,4m2 phần đất bà H lấn chiếm của chị thuộc thửa 108, tờ bản đồ số 24.

Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Phần đất chị Lại Thị Lệ T khi chuyển nhượng là trọn thửa và được Ủy ban cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho ông P, diện tích được cấp là 124,5m2, khi chuyển nhượng cơ quan chuyên môn không tiến hành đo đạc lại. Qua đo đạc thực tế phần đất của chị T thiếu và nếu tính luôn phần đất tranh chấp thì chị T vẫn còn thiếu vài mét vuông. Đối với đất bà H theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 107,6m2, nếu tính luôn phần đất tranh chấp thì diện tích đất bà H sẽ thừa so diện tích được cấp giấy là 13.9m2. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Lại Thị Lệ T.

Đại diện Viện kiểm sát ý kiến về vụ án:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý xem xét giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần đơn kháng cáo của chị T, sửa một phần bản án sơ thẩm

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Chị Thủy yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất thửa số 108, tờ bản đồ số 24 với thửa đất số 218, tờ bản đồ số 24 của bà H là từ các mốc 1-2-3-4 và yêu cầu bà H trả lại diện tích đất lấn chiếm là 19,4m2 thể hiện trên mảnh trích đo số 05-2016 ngày 11/3/2016 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố S.

Về nguồn gốc phần đất diện tích 124,5m2 tại thửa số 108, tờ bản đồ số 24 là chị Thủy nhận chuyển nhượng từ ông Tô Văn P và bà Lê Kim H1 là anh rể của bà H vào ngày 17/4/2012. Phần đất của bà H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14/8/2006 tại thửa số 218, tờ bản đồ số 24 diện tích 107,6m2.

Quá trình sử dụng thì phần đất của bà H và phần đất ông P liền kề nhau, ông P, bà H1 nhận tặng cho từ bà Nguyễn Thị Y (là mẹ vợ ông P). Theo ông P bà H xác định ranh giới giữa đất ông P và đất bà H là ngay vách tường nhà của ông P (tức là từ mốc 9 đến mốc 4 của mảnh trích đo địa chính số 05- 2016 ngày 11/3/2016 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố S).

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm chị C là người được bà H ủy quyền cho rằng phần diện tích đất tại thửa 218 tờ bản đồ số 24 bà H được cấp quyền sử dụng diện tích 124,9m2, Nhà nước đã thu hồi 17,3m2 để làm đường Nguyễn Văn Phát,diện tích còn lại trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 107,6m2, nhưng qua xem xét thẩm định tại chổ ngày 11/3/2016 tại mảnh trích đo địa chính số 05- 2016 thì diện tích đất thực tế của bà H chỉ còn diện tích 102,1m2 thiếu 5,5m2 so với quyền sử dụng đất bà H được cấp vào ngày 14/8/2006. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 11/8/2017 chị C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao đủ diện tích cho bà H theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp là 107,6m2, phần diện tích còn thừa lại chị không có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Tại phiên tòa anh T1 là người đại diện ủy quyền của chị T thống nhất theo lời trình bày của chị C là người được bà H ủy quyền và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao đủ diện tích 107,6m2 cho bà H, phần diện tích còn thừa lại 13,9m2 giao lại cho chị T sử dụng, vì diện tích đất còn thừa lại chị T đã chuyển nhượng của ông P, bà H1 là 124,5m2 nhưng qua đo đạc thực tế ngày 11/3/2016 theo mảnh trích đo địa chính số 05-2016 thì diện tích đất của chị T chỉ còn 100,1m2  là thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng chị đã được cấp vào ngày 08/5/2012, anh yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét buộc bà H giao lại phần diện tích đất còn thừa lại 13,9m2 cho chị T, anh không có ý kiến gì khác.

Qua ý kiến của chị C và anh T1 tại phiên tòa phúc thẩm ngày 11/8/2017, Hội đồng xét xử xét thấy việc thỏa thuận của hai bên là tự nguyện và phù hợp với pháp luật, nên Hội đồng xét xử dừng phiên tòa để kiểm tra lại phần diện tích tranh chấp theo yêu cầu của hai bên. Nhưng tại phiên tòa hôm nay chị C cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao đủ diện tích 107,6m2  theo giấy chứng nhận bà H đã được cấp, nhưng chị đề nghị giữ nguyên ranh giới giữa hai bên  theo  mốc 9 và mốc 4 của mảnh trích đo địa chính số 05-2016 ngày 11/3/2016 là ranh giới chung giữa hai bên.

Đối với việc yêu cầu của chị C, Hội đồng xét thấy: Theo biên bản xem xét thẩm định và sơ đồ mảnh trích đo địa chính số 05-2016 ngày 11/3/2016 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố S thì diện tích đất thực tế của bà H chỉ còn 102,1m2  thiếu 5,5m2  và theo yêu cầu của chị C đề nghị Hội đồng xét xử giao cho bà H đủ diện tích 107,6m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà H đã được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp vào ngày 14/8/2006.

Xét yêu cầu của chị C yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giao đủ diện tích 107,6m2 theo giấy chứng nhận bà H đã được cấp là có căn cứ, nên chấp nhận lời yêu cầu trên của chị C. Còn việc chị C yêu cầu được giữ nguyên hiện trạng ranh đất giữa hai bên theo mốc 9 và mốc 4 là không có cơ sở. Bởi vì, tại phiên tòa chị C yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giao đủ diện tích 5,5m2 cho bà H để đủ diện tích 107,6m2 mà bà H đã được cấp giấy, nên việc chị yêu cầu xác định ranh giới giữa hai bên từ mốc 9 đến mốc 4, Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[3] Đối với phần diện tích đất tranh chấp còn lại 13,9m2 Hội đồng xét xử xét thấy việc chị T yêu cầu được sử dụng diện tích trên là có căn cứ. Bởi vì, theo biên bản xem xét thẩm định và sơ đồ mảnh trích đo địa chính số 05-2016 ngày 11/3/2016 thì diện tích đất thực tế của chị T sử dụng chỉ còn 100,1m2, so với giấy chứng nhận được cấp 124,5m2, thì diện tích thiếu 24,4m2, nếu cộng thêm diện tích 13,9m2  thì diện tích đất chị T đang sử dụng vẫn còn thiếu diện tích so với quyền sử dụng đất mà chị đã được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp vào ngày 08/5/2012. Do đó, xét yêu cầu kháng cáo của chị T là có căn cứ. Tại phiên tòa chị T tự nguyện chịu án phí như bản án sơ thẩm xử. Xét sự tự nguyện chịu án phí của chị T là phù hợp nên chấp nhận.

Từ những phân tích trên xét án sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu của chị T là chưa có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần đơn kháng cáo của chị T, sửa một phần bản án sơ thẩm, công nhận sự tự nguyện chịu tiền án phí sơ thẩm của chị T.

Ranh giới quyền sử dụng đất thửa số 108, tờ bản đồ số 24 của chị Lại Thị Lệ T và thửa đất số 218, tờ bản đồ số 24 của bà Lê Thị Tuyết H được xác định như sau: Nối mốc 9a đến mốc 4a làm ranh giới chung giữa đất chị Lại Thị Lệ T và đất bà Lê Thị Tuyết H theo mảnh trích đo địa chính số 05- 2016 ngày 11/3/2016 và sơ đồ đo đạc bổ sung ngày 29/8/2017 của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố S.

Bà Lê Thị Tuyết H được sử dụng diện tích 5,5m2 tại các mốc: Mốc 1,mốc 2, mốc 3, mốc 4a, mốc 9a về mốc 1 thể hiện trên mảnh trích đo địa chính số 05-2016 ngày 11/3/2016 và sơ đồ đo đạc bổ sung ngày 29/8/2017 của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố S.

Buộc bà H phải giao lại cho chị Lại Thị Lệ T diện tích 13,9m2 tại cácmốc: Mốc 9, mốc 9a, mốc 4a, mốc 4 về mốc 9 theo mảnh trích đo địa chính số 05-2016 ngày 11/3/2016 và sơ đồ đo đạc bổ sung ngày 29/8/2017của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố S.

[4] Tại phiên tòa Luật sư bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận một phần đơn kháng cáo của chị T và công nhận thỏa thuận của các bên đương sự tại phiên tòa ngày 11/8/2017. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại phần diện tích tranh chấp giữa hai bên, qua đo đạc thực tế phần diện tích đất của bà H là 102,1m2 thiếu 5,5m2 nên giao cho bà H diện tích 5,5m2 để đủ diện tích 107,6m2 bà H đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần diện tích đất tranh chấp còn lại giao cho chị T sử dụng. Xét lời đề nghị của Luật sư là có căn cứ chấp nhận.

[5] Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần đơn kháng cáo của chị T. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

Do sửa bản án sơ thẩm, nên chị T không phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, chị T được nhận lại tiền tạm ứng án phí kháng cáo tại Chi cục Thi hành án thành phố S.

Các phần khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308; khoản 2 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 265 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 26, Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của chị Lại Thị Lệ T.

2. Sửa một phần bản án sơ thẩm về diện tích tranh chấp.

Chấp nhận một phần yêu cầu của chị Lại Thị Lệ T, buộc bà Lê Thị Tuyết H trả lại diện tích đất 13,9m2  trong phạm vi từ Mốc 9, mốc 9a, mốc 4a, mốc 4 về mốc 9 theo mãnh trích đo địa chính số 05-2016 ngày 11/3/2016 và sơ đồ đo đạc bổ sung ngày 29/8/2017 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố S.

Chị Lại Thị Lệ T được sử dụng diện tích 13,9m2  tại các mốc: Mốc 9, mốc 9a, mốc 4a, mốc 4 về mốc 9 theo mảnh trích đo địa chính số 05-2016 ngày 11/3/2016 và sơ đồ đo đạc bổ sung ngày 29/8/2017 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố S kèm theo.

Bà Lê Thị Tuyết H được sử dụng diện tích 5,5m2 tại các mốc: Mốc 1, mốc 2, mốc 3, mốc 4a, mốc 9a về mốc 1 theo mảnh trích đo địa chính số 05- 2016 ngày 11/3/2016 và sơ đồ đo đạc bổ sung ngày 29/8/2017 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố S.

Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa số 108, tờ bản đồ số 24 của chị Lại Thị Lệ T và thửa đất số 218, tờ bản đồ số 24 của bà Lê Thị Tuyết H là nối từ các mốc 9a đến mốc 4a làm ranh giới chung giữa đất chị Lại Thị Lệ T và đất bà Lê Thị Tuyết H (có mảnh trích đo địa chính số 05-2016 ngày 11/3/2016 và sơ đồ đo đạc bổ sung ngày 29/8/2017 của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố S kèm theo).

Chị Lại Thị Lệ T và bà Lê Thị Tuyết H có quyền và nghĩa vụ sử dụng ranh giới quyền sử dụng đất đã được xác định nêu trên theo chiều thẳng đứng từ dưới mặt đất lên trên không gian, các tài sản có trên ranh giới đã được xác định phải được di dời theo quy định của pháp luật về ranh giới quyền sử dụng đất.

Các bên đương sự được quyền đến các cơ quan có thẩm quyền để kê khai, đăng ký, điều chỉnh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí:

- Án phí sơ thẩm:

Chị Lại Thị Lệ T tự nguyện nộp 3.395.000đ án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu số 036254 ngày 02/10/2015 số tiền là 400.000đ và theo biên lai thu số 06315 ngày 15/12/2016 số tiền là 1.300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S, sau khi khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị Lại Thị Lệ T còn phải nộp tiếp 1.695.000đ án phí dân sự sơ thẩm .

- Án phí phúc thẩm:

- Chị Lại Thị Lệ T không phải chịu 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm, chị được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo theo biên lai thu số 13557 ngày 27/4/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S.

4. Về chi phí thẩm định, định giá:

Chị Lại Thị Lệ T phải chịu tiền chi phí đo đạc, thẩm định định giá là 3.492.000đ, chị đã tạm ứng và đã chi xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


65
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về