Bản án 214/2019/HSPT ngày 31/07/2019 về tội gây rối trật tự công cộng

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 214/2019/HSPT NGÀY 31/07/2019 VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG

Vào ngày 31 tháng 07 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 190/2019/TLPT-HS ngày 09 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo Huỳnh Hiệp X và đồng phạm về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Do có kháng cáo của của bị cáo và đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2019/HS-ST ngày 21-03-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 705/2019/QĐXXPT-HS ngày 01 tháng 7 năm 2019.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Huỳnh Hiệp X (X Bụi), sinh năm: 1983 tại Bình Định; nơi cư trú: Thôn V1, xã M1, Huyện Ph, Bình Định; Nghề nghiệp: Không ổn định; Trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Hiệp Đ, sinh năm: 1949; con bà: Tưởng Thị D, sinh năm: 1949; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

+ Ngày 04.02.2002, bị đưa đi cơ sở giáo dục 12 tháng tại Cơ sở giáo dục A1- Phú Yên về hành vi gây rối an ninh trật tự (đã chấp hành xong)

+ Ngày 21.6.2005 bị TAND thành phố Q xử phạt 12 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” đến ngày 01.10.2006 đã chấp hành xong án phạt tù.

+ Ngày 13.4.2010 bị đưa vào Cơ sở giáo dục 24 tháng tại Cơ sở giáo dục A1- Phú Yên về hành vi tham gia đánh nhau, gây rối an ninh trật tự (đã chấp hành xong)

+ Ngày 02.10.2017 bị UBND xã M2, huyện Ph ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 3.500.000đ về hành vi đập phá tài sản người khác xảy ra ngày 05.8.2017 tại V2, xã M2, Huyện Ph.

Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

2. Thái Hoàng N, sinh năm: 1994 tại Bình Định; nơi cư trú: Thôn A, xã M3, Huyện Ph, Bình Định; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 8/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Thái Văn L2, sinh năm: 1960; con bà: Đặng Thị Q1, sinh năm: 1960; Vợ, con: Chưa có; tiền án: Ngày 25.4.2013 bị TAND huyện Ph tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, ngày 09.02.2015 chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

3. Nguyễn Hồng Q, sinh năm: 1992 tại Bình Định; nơi cư trú: Thôn V1, xã M1, Huyện Ph, Bình Định; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 11/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hoài N1, sinh năm: 1970; con bà: Võ Thị Ph1, sinh năm: 1970; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

4. Hoàng Ngọc T, sinh năm: 1999 tại Bình Định; nơi cư trú: Thôn V3, xã M4, huyện Ph, Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Ngọc T3, sinh năm: 1970; con bà: Võ Thị H3, sinh năm: 1970; sống chung như vợ chồng với Đỗ Thị T4, con: Có 02 con lớn nhất 02 tuổi, nhỏ nhất 01 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 07.01.2013 bị Công an huyện Ph đưa vào trường giáo dưỡng số 3 tại Đà Nẵng về hành vi “Cướp tài sản”, chấp hành xong ngày 21.12.2014. Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

5. Đào Duy Đ, sinh năm: 1991 tại Bình Định; nơi cư trú: Thôn Ng, xã H4, Huyện H5, Bình Định; Nghề nghiệp: Sửa xe; Trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đào Duy X, sinh năm: 1963; con bà: Đặng Thị Y (không rõ năm sinh); Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

6. Nguyễn Văn L, sinh năm: 1994 tại Bình Định; nơi cư trú: Thôn Ch1, xã M1, Huyện Ph, Bình Định; Nghề nghiệp: Không ổn định; Trình độ học vấn: 8/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn C1, sinh năm: 1971; con bà: Nguyễn Thị N2, sinh năm: 1971; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Phạm Linh K, sinh năm: 1996; Nơi cư trú: Thôn Tr1, xã M1, huyện Ph, tỉnh Bình Định.Có mặt

- Phạm Văn Th, sinh năm: 1995; Nơi cư trú: Thôn Tr1, xã M1, huyện Ph, tỉnh Bình Định.Có mặt

- Đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Bình Nhất P (đã chết):

+ Bà Phạm Thị T1, sinh năm: 1957; Nơi cư trú: Thôn D2, TT.B, Huyện Ph, Bình Định.Có mặt

+ Bà Võ Thị T2, sinh năm: 1988; Nơi cư trú: Thôn D2, TT.B, Huyện Ph, Bình Định.Vắng mặt

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Huỳnh Phước H1 - Luật sư hoạt động tại Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Phạm Thị T1.Vắng mặt

- Ông Nguyễn Đình Thái H2 - Luật sư hoạt động tại Đoàn luật sư thành phố Đà Nẵng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Võ Thị T2. Vắng mặt

- Ông Đào Kim L1 - Luật sư hoạt động tại Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Võ Thị T2. Vắng mặt

Những người kháng cáo Các bị cáo Hoàng Ngọc T, Đào Duy Đ, Huỳnh Hiệp X, Thái Hoàng N, Nguyễn Hồng Q, Nguyễn Văn L có đơn kháng cáo.

Đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Bình Nhất P: Bà Võ Thị T2; bà Phạm Thị T1 kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 16/6/2017, Nguyễn Bình Nhất P cùng với Nguyễn Văn L, Hoàng Ngọc T và một số người bạn đi nhậu ở nhiều nơi trong thị trấn B, huyện Ph, Bình Định. Đến khoảng 01h00 ngày 17/6/2017, P rủ T, L tiếp tục đến nhậu tại Gara Thuận ở thị trấn B. Trong lúc ngồi nhậu, P nói “Tao rất ghét thằng X, tí nữa nhậu xong anh em mình ra nhà thằng X đánh nó”; T và L đồng ý. Ngồi nhậu một lúc, P đi ra ngoài, sau đó quay lại cầm theo 03 cây phảng và nói T, L cùng với P đến nhà X. T điều khiển xe máy hiệu Exciter, biển số 77D1-379.33 chở P ngồi giữa cầm 01 cây phảng; L ngồi sau cầm 02 cây phảng từ thị trấn B đến nhà Huỳnh Hiệp X tại thôn V1, xã M1, huyện Ph (nhà X nằm trên đường QL1A). Tại đây, L cầm 01 cây phảng đứng ngoài xe; P và T mỗi người cầm một cây phảng đến trước nhà X, dùng phảng đập nhiều cái vào cửa sắt nhà của X gây ồn ào, mất trật tự. Lúc này, Thái Hoàng N đang ngủ ở phòng khách nhà X nghe nên bật điện sáng và hỏi “ai vậy”; T và P nói “Đéo cần biết tao là ai, kêu thằng X ra đây tao chém”; N vào phòng gọi X dậy và hô “ăn cướp”; nên P, T và L điều khiển xe máy chạy về thị trấn B tiếp tục nhậu; tại đây, P gọi điện bảo Đào Duy Đ cùng đến nhậu. Đến khoảng 02h30 cùng ngày, Đ điều khiển xe máy Exciter chở T, L, P cầm theo 04 cây phảng đi ra thị trấn B xem có gặp nhóm X không để đánh.

Tại nhà X lúc này có N, X và Nguyễn Hồng Q; Q lấy xe Suzuki Sport biển số 77D1-269.56 của X chở N đi vào hướng thị trấn B. Khi đến gần ngã ba thị trấn B, nhóm của P phát hiện Q và N đang chạy xe của X; nên P nói “tụi nó đấy, đuổi theo chém”; T, L, P tay cầm phảng, dơ lên hô chém và rượt đuổi nhóm của Q. Thấy vậy, Q tăng tốc chạy về nhà X và dắt xe vào nhà đóng cửa lại. Lúc này nhóm P đã đến đứng trước nhà của X; Q và N đứng bên hông nhà X cầm đá thủ sẳn và hô “tụi bay có ngon thì vào đây”. Nhóm P nghĩ rằng nhà X có nhiều người, nên không dám xông vào mà chạy thẳng ra hướng Bắc, dừng đổ xăng tại cây dầu Hoàng Tín thuộc thôn Lộc Thái, xã M1, huyện Ph. Tại đây, nhóm P nhìn thấy Phạm Linh K, Phạm Văn Th đi trên 02 xe máy từ huyện H5 về nên P gọi K, Th quay lại nhờ chở P và L; còn T chở Đ chạy bên trái đường (đi ngược chiều) theo hướng Bắc – Nam để lấy 04 cây phảng (do đã ném trước đó bên lề đường phía Đông).

Sau khi bị nhóm của P rượt đuổi N, Q và dùng phảng đập cửa nhà của X; X bảo N lấy xe mô tô Suzuki Sport chở X và Q cầm theo 02 cây phảng chạy ra hướng Bắc tìm xem thử nhóm nào đến nhà X đập phá trước đó (lúc này khoảng 03h00 sáng). Khi xe của N chở X và Q đến gần quán cơm AB thuộc thôn Lộc Thái, xã M1, huyện Ph thì nhìn thấy phía trước có 01 xe mô tô do T chở Đ chạy ngược chiều bên trái đường, lúc hai xe gần đối đầu nhau T lách xe chuyển phần đường chạy nhanh về hướng Nam, X bảo N quay xe đuổi theo, nhưng khi đuổi theo khoảng 01km thì đuổi không kịp, nên X bảo N quay xe chạy ra lại hướng Bắc xem sao. Khi đi qua đoạn đường có tục danh “Hồ Cá”, bọn chúng nhìn thấy phía trước khoảng 50m có 02 xe máy chạy ngược chiều, bỗng nhiên quay đầu chạy nhanh về hướng Bắc, X cho rằng nhóm này là những người đập phá nhà mình nên X bảo N chạy nhanh lên đuổi theo xem thử bọn chúng là ai. Nhóm P khi nghe tiếng pô xe Suzuki Sport của X chạy phía sau, sợ nhóm X đuổi đánh nên đã tăng ga bỏ chạy (K chở P đi trước, Th chở L đi phía sau), chạy khoảng hơn 1km, xe của N vượt qua khỏi xe của Th và lúc này xe Th bị tai nạn (Th và L bị thương tích nhẹ), N tiếp tục cho xe chạy phía sau xe của K, khi đến gần hết chân đèo PC (phía Bắc) thuộc thôn Văn Cang, xã Hoài Đức, huyện H5 nghe tiếng pô xe của bọn N đến gần làm cho K (người cầm lái) hoảng sợ nhìn về phía sau, dẫn đến mất lái, để xe tông thẳng vào hộ lang bên phải đường gây tai nạn; N tiếp tục cho xe chạy thẳng ra đến Trạm thu phí Bắc Bình Định, sau đó cả nhóm đi về. Hậu quả, Nguyễn Bình Nhất P bị thương nặng chết tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định ngày 21/6/2017; còn Phạm Linh K bị thương tích phải cấp cứu và điều trị, xe mô tô của K bị hư hỏng nặng.

Tại Bản kết luận giám định về tử thi số 196 ngày 12/7/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Định kết luận nguyên nhân chết của Nguyễn Bình Nhất P: Chấn thương sọ não, chảy máu nội sọ chèn ép não điều trị không hồi phục/đa chấn thương.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 23 ngày 06/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bình Định kết luận xe mô tô của Phạm Linh K biển số 77D1-123.37 bị hư hỏng, thiệt hại với số tiền 16.380.000đ.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 20/2019/HS-ST ngày 21/03/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã quyết định:

* Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Hiệp X, Thái Hoàng N, Nguyễn Hồng Q, Hoàng Ngọc T, Đào Duy Đ, Nguyễn Văn L đều phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

 sự.

* Áp dụng: khoản 1 Điều 245; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

* Xử phạt:

1. Bị cáo Huỳnh Hiệp X 18 (mười tám) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Bị cáo Nguyễn Hồng Q 12 (mười hai) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

3. Bị cáo Hoàng Ngọc T 18 (mười tám) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

4. Bị cáo Đào Duy Đ 12 (mười hai) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

5. Bị cáo Nguyễn Văn L 12 (mười hai) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

* Áp dụng: khoản 1 Điều 245; điểm p Khoản 1 điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự.

* Xử phạt: Bị cáo Thái Hoàng N 15 (mười lăm) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/03/2019 các bị cáo Hoàng Ngọc T, Đào Duy Đ có đơn kháng cáo với cùng nội dung kêu oan.

Ngày 27/03/2019 các bị cáo Huỳnh Hiệp X, Thái Hoàng N, Nguyễn Hồng Q có đơn kháng cáo với cùng nội dung kêu oan.

Ngày 22/3/2019; 26/3/2019 Đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Bình Nhất P: Bà Võ Thị T2; bà Phạm Thị T1 kháng cáo với cùng nội dung yêu cầu xem xét lại toàn bộ bản án, đem lại công bằng cho Nguyễn Bình Nhất P.

Ngày 04/05/2019 Bị cáo Nguyễn Văn L có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, luật sư Huỳnh Phước Hiệp là người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà T1 có đơn xin hoãn phiên tòa, các Luật sư Nguyễn Đình Thái Hùng, Đào Kim Lân là người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà Võ Thị T2 vắng mặt không có lý do, bà Võ Thị T2 vắng mặt, có đơn xin hoãn phiên tòa. Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bị cáo Hoàng Ngọc T, Đào Duy Đ, Huỳnh Hiệp X, Thái Hoàng N, Nguyễn Hồng Q thay đổi nội dung kháng cáo, các bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt. Nguyễn Văn L giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Bình Nhất P: Bà Võ Thị T2; bà Phạm Thị T1 vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo (bà T1 và bà T2 có cùng một nội dung kháng cáo).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu quan điểm như sau: Hành vi phạm tội của các bị cáo X, N, Q có dấu hiệu của tội “Giết người” Bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” là không chính xác. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy một phần bản án sơ thẩm để điều tra xét xử lại đối với bị cáo, Huỳnh Hiệp X, Thái Hoàng N, Nguyễn Hồng Q. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hoàng Ngọc T, Đào Duy Đ, Nguyễn Văn L.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai nhận của bị cáo, và kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan toàn diện và đầy đủ chứng cứ. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tối ngày 16/6/2017, Nguyễn Bình Nhất P cùng với Nguyễn Văn L, Hoàng Ngọc T và một số người bạn đi nhậu ở nhiều nơi trong thị trấn B, huyện Ph, Bình Định. Đến khoảng 01h00 ngày 17/6/2017, P rủ T, L tiếp tục đến nhậu tại Gara Thuận ở thị trấn B. Trong lúc ngồi nhậu, P nói “Tao rất ghét thằng X, tí nữa nhậu xong anh em mình ra nhà thằng X đánh nó”; T và L đồng ý. P đi ra ngoài, sau đó quay lại cầm theo 03 cây phảng và nói T, L cùng với P đến nhà X. T điều khiển xe máy hiệu Exciter, biển số 77D1-379.33 chở P ngồi giữa cầm 01 cây phảng; L ngồi sau cầm 02 cây phảng từ thị trấn B đến nhà Huỳnh Hiệp X tại thôn V1, xã M1, huyện Ph (nhà X nằm trên đường QL1A). Tại đây, L cầm 01 cây phảng đứng ngoài xe; P và T mỗi người cầm một cây phảng đến trước nhà X, dùng phảng đập nhiều cái vào cửa sắt nhà của X gây ồn ào, mất trật tự. Lúc này, Thái Hoàng N đang ngủ ở phòng khách nhà X nghe nên bật điện sáng và hỏi “ai vậy”; T và P nói “Đéo cần biết tao là ai, kêu thằng X ra đây tao chém”; N vào phòng gọi X dậy và hô “ăn cướp”; nên P, T và L điều khiển xe máy chạy về thị trấn B tiếp tục nhậu; tại đây, P gọi điện bảo Đào Duy Đ cùng đến nhậu. Đến khoảng 02h30 cùng ngày, Đ điều khiển xe máy Exciter chở T, L, P cầm theo 04 cây phảng đi ra thị trấn B xem có gặp nhóm X không để đánh.

[2] Tại nhà X lúc này có N, X và Nguyễn Hồng Q; Q lấy xe Suzuki Sport biển số 77D1-269.56 của X chở N đi vào hướng thị trấn B. Khi đến gần ngã ba thị trấn B, nhóm của P phát hiện Q và N đang chạy xe của X; nên P nói “tụi nó đấy, đuổi theo chém”; T, L, P tay cầm phảng, dơ lên hô chém và rượt đuổi nhóm của Q. Thấy vậy, Q tăng tốc chạy về nhà X và dắt xe vào nhà đóng cửa lại. Lúc này nhóm P đã đến đứng trước nhà của X; Q và N đứng bên hông nhà X cầm đá thủ sẵn và hô “tụi bay có ngon thì vào đây”. Nhóm P nghĩ rằng nhà X có nhiều người, nên không dám xông vào mà chạy thẳng ra hướng Bắc, dừng đổ xăng tại cây dầu Hoàng Tín thuộc thôn Lộc Thái, xã M1, huyện Ph. Tại đây, nhóm P nhìn thấy Phạm Linh K, Phạm Văn Th đi trên 02 xe máy từ huyện H5 về nên P gọi K, Th quay lại nhờ chở P và L; còn T chở Đ chạy bên trái đường (đi ngược chiều) theo hướng Bắc – Nam để lấy 04 cây phảng (do đã ném trước đó bên lề đường phía Đông).

[3] Sau khi bị nhóm của P rượt đuổi N, Q và dùng phảng đập cửa nhà của X; X bảo N lấy xe mô tô Suzuki Sport chở X và Q cầm theo 02 cây phảng chạy ra hướng Bắc tìm xem thử nhóm nào đến nhà X đập phá trước đó (lúc này khoảng 03h00 sáng). Khi xe của N chở X và Q đến gần quán cơm AB thuộc thôn Lộc Thái, xã M1, huyện Ph thì nhìn thấy phía trước có 01 xe mô tô do T chở Đ chạy ngược chiều bên trái đường, lúc hai xe gần đối đầu nhau T lách xe chuyển phần đường chạy nhanh về hướng Nam, X bảo N quay xe đuổi theo, nhưng khi đuổi theo khoảng 01km thì đuổi không kịp, nên X bảo N quay xe chạy ra lại hướng Bắc xem sao. Khi đi qua đoạn đường có tục danh “Hồ Cá”, bọn chúng nhìn thấy phía trước khoảng 50m có 02 xe máy chạy ngược chiều, bỗng nhiên quay đầu chạy nhanh về hướng Bắc, X cho rằng nhóm này là những người đập phá nhà mình nên X bảo N chạy nhanh lên đuổi theo xem thử bọn chúng là ai. Nhóm P khi nghe tiếng pô xe Suzuki Sport của X chạy phía sau, sợ nhóm X đuổi đánh nên đã tăng ga bỏ chạy (K chở P đi trước, Th chở L đi phía sau), chạy khoảng hơn 1km, xe của N vượt qua khỏi xe của Th và lúc này xe Th bị tai nạn (Th và L bị thương tích nhẹ), N tiếp tục cho xe chạy phía sau xe của K, khi đến gần hết chân đèo PC (phía Bắc) thuộc thôn Văn Cang, xã Hoài Đức, huyện H5 nghe tiếng pô xe của bọn N đến gần làm cho K (người cầm lái) hoảng sợ nhìn về phía sau, dẫn đến mất lái, để xe tông thẳng vào hộ lang bên phải đường gây tai nạn; N tiếp tục cho xe chạy thẳng ra đến Trạm thu phí Bắc Bình Định, sau đó cả nhóm đi về. Hậu quả, Nguyễn Bình Nhất P bị thương nặng chết tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định ngày 21/6/2017; còn Phạm Linh K bị thương tích phải cấp cứu và điều trị, xe mô tô của K bị hư hỏng nặng.

Tại Bản kết luận giám định về tử thi số 196 ngày 12/7/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Định kết luận nguyên nhân chết của Nguyễn Bình Nhất P: Chấn thương sọ não, chảy máu nội sọ chèn ép não điều trị không hồi phục/đa chấn thương.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 23 ngày 06/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bình Định kết luận xe mô tô của Phạm Linh K biển số 77D1-123.37 bị hư hỏng, thiệt hại với số tiền 16.380.000đ.

[4] Xét đơn kháng cáo của các bị cáo Hoàng Ngọc T, Đào Duy Đ, Huỳnh Hiệp X, Thái Hoàng N, Nguyễn Hồng Q, Nguyễn Văn L. Và đơn kháng cáo của bà Võ Thị T2; bà Phạm Thị T1. Hội đồng xét xử xét thấy:

[4.1] Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án như lời khai nhận của các bị cáo tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai thấy rằng bị cáo Huỳnh Hiệp X ngay từ ban đầu đã có những lời khai không trung thực về hành vi của mình, bị cáo không thừa nhận việc cầm Phảng và không thừa nhận việc rủ Thái Hoàng N, Nguyễn Hồng Q đi tìm đánh trả thù nhóm của Nguyễn Bình Nhất P đã đến nhà bị cáo đập phá gây sự. Chỉ sau khi cơ quan điều tra thực hiện việc điều tra xác minh và lấy lời khai của các bị cáo khác, Huỳnh Hiệp X mới thừa nhận hành vi của mình.

Trong số các lời khai của các bị cáo cũng như lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Phạm Linh K, Phạm Văn Th thấy rằng: Lời khai của Phạm Linh K, Phạm Văn Th ngay từ ban đầu về cơ bản là phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo, phù hợp với những chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và diễn biến của sự việc.

Xét Thấy: Căn cứ vào chứng cứ có tại hồ sơ vụ án có đủ căn cứ để khẳng định. Do giữa Nguyễn Bình Nhất P và Huỳnh Hiệp X có mâu thuẫn nhau từ trước, Nguyễn Bình Nhất P thường X mỗi khi say rượu thường nhắn tin, gọi điện thoại gây sự với X, có khi X không có nhà thì đêm khuya P đến nhà X đập cửa sắt nhà X, bố mẹ X biết chuyện và đến nhà P nói chuyện về việc P đến nhà đập cửa nhà X ( BL 579). Khoảng hơn 1 giờ ngày 17/6/2017 sau khi uống rượu cùng bạn bè, P lại tiếp tục đến nhà X để đập phá cửa nhà X.

Sau khi xác định được nhóm của Nguyễn Bình Nhất P đến đập phá cửa nhà mình như mọi lần, Huỳnh Hiệp X đã rủ Nguyễn Hồng Q và Thái Hoàng N đi tìm nhóm của P để đánh. Trong quá trình điều tra và án sơ thẩm nhận định X không biết ai là người đến nhà X để đập cửa nhà mình là chưa đủ căn cứ, mà có đủ căn cứ khẳng định X biết P cùng đồng bọn đến nhà X đập phá như đã viện dẫn nêu trên, và tại bút lục 619 Nguyễn Hồng Q khai “ Lúc chạy ra chỗ trạm thu phí thì X có nói chính bọn này là bọn đập phá nhà X, tôi cũng nghe X nói là thằng P ốm nhiều lần đến nhà X đập phá, gây sự với X”. Tại bản tự khai ngày 27/6/2017 bút lục 622 Nguyễn Hồng Q khai “ Khi chạy ra tới quán cơm AB thì có 01 xe chạy ngược đường phía dưới hướng chạy vô anh X bảo N quay xe lại chạy theo coi thử phải tụi nó không chạy khoảng 200m thì anh X nói không phải bọn hồi nãy đập nhà anh đâu”. Tại BL 559 Thái Hoàng N khai: “Tôi tăng ga đuổi theo một đoạn khoảng 700 mét thì phát hiện ra nhóm thanh niên phía trước là nhóm của Nguyễn Bình Nhất P. Xe của P chạy trước, P là người ngồi sau mặc áo thun ba lỗ màu trắng”.

Như vậy X đã xác định được nhóm của P là người đập phá nhà mình nên nói Q và N chở đi tìm, và trên thực tế sau này bị cáo đã tìm được P ngồi sau xe của K, rồi rượt đuổi dẫn đến P bị tai nạn tử vong.

[4.2] Về hành vi của Huỳnh Hiệp X, Thái Hoàng N, Nguyễn Hồng Q dùng xe mô tô phân khối lớn, pô nổ tiếng to, cầm Phảng rượt đuổi nhóm của K chở P.

Thời điểm nhóm X rượt đuổi xe của K chở P là khoảng 04 giờ sáng (Khi trời còn tối) địa điểm rượt đuổi là QL01A, đoạn từ nhà nghỉ đèo PC đến qua đèo PC, có độ dốc nghiêng: Quá trình rượt đuổi nhóm xe của X chạy với tốc độ cao (mặc dù không có kết luận giám định về vận tốc xe, không kiểm tra công tơ mét nhưng căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, dấu vết phương tiện bị tai nạn, và dấu vết để lại hiện trường có thể khẳng định xe của nhóm X rượt đuổi xe của K chở P đều chạy với tốc độ khoảng 70 đến 80 km/giờ. Tại phiên tòa hôm nay cả Thái Hoàng N, và Phạm Linh K đều thừa nhận chạy với vận tốc rất cao từ 70 đến 75km/h Trong quá tình rượt đuổi lời khai của bị cáo X thừa nhận có cẩm theo Phảng lời khai nhận này phù hợp với lời khai của Phạm Linh K, Phạm Văn Th. Mặc dù bị cáo X không thừa nhận cầm Phảng dơ lên dọa tuy nhiên có đủ căn cứ để khảng định bị cáo X có hành vi dơ Phảng lên dọa chém vì ngoài lời khai của Phạm Linh K có nhìn thấy X dơ Phảng lên dọa còn có lời khai của Phạm Văn Th khai tại các (Bút lục 771 và 782) và tại phiên tòa hôm nay Th khai có người ngồi trên xe cầm Phảng hô “giết, giết” và có người cầm Phảng dơ lên dọa chém, do vậy Phạm Văn Th hoảng sợ và xe của Th cũng bị ngã.

Xét thấy hành vi cầm Phảng rượt đuổi xe chạy với tốc độ cao đuổi theo xe của K chở theo P là người đã cùng một số đối tượng đến nhà X đập phá cửa nhà X thì N, X, Q phải nhận thức được hành vi của mình là rất nguy hiểm. Phạm Linh K do hoảng sợ cũng phải điều khiển xe chạy tốc độ cao để tránh sự truy đuổi của nhóm X. Khi xe của nhóm X tới gần thì Phạm Linh K hoảng sợ vừa đi vừa nhìn về phía sau, nhóm của X vẫn không dừng lại mà tiếp tục đuổi theo cho đến khi xe của K chở P bị tai nạn thì các bị cáo bỏ mặc. Với toàn bộ diễn biến của sự việc, cùng với hành vi nguy hiểm nêu trên, có đủ cơ sở để xác định hành vi phạm tội của Huỳnh Hiệp X, Thái Hoàng N, Nguyễn Hồng Q là rất quyết liệt, bị cáo X đã rủ bị cáo N và Q mang theo hung khí giữa đêm khuya đi tìm P để trả thù vì có hành vi phá cửa nhà X, chứng tỏ về mặt chủ quan các bị cáo X, N, Q không mong muốn nhưng có ý thức chấp nhận hậu quả chết người xảy ra, và trên thực tế khi thấy xe của K chở P bị tai nạn té ngã khi đang đi với tốc độ cao, do xe của nhóm mình rượt đuổi thì nhóm của X bỏ mặc, không đưa P và K đi cấp cứu, hậu quả là P bị chết.

Do đó hành vi của Huỳnh Hiệp X, Thái Hoàng N, Nguyễn Hồng Q có dấu hiệu cấu thành tội “Giết người” với lỗi cố ý gián tiếp. Cơ quan điều tra và toà án cấp sơ thẩm cho rằng hậu quả chết người không phải do nhóm của X gây ra mà P chết là do xe bị té ngã, đồng thời nhận định rằng nhóm của X, Q, N không xác định chính xác là sẽ đuổi đánh người nào do vậy tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Huỳnh Hiệp X, Thái Hoàng N, Nguyễn Hồng Q về tội “ Gây rối trật tự công cộng” là không đúng pháp luật.

[4.3] Đối với hành vi của Hoàng Ngọc T, Đào Duy Đ, Nguyễn Văn L đã có hành vi cùng với Nguyễn Bình Nhất P, mang theo Phảng 02 lần đến nhà X vô cớ đập phá của nhà X, dẫn đến việc nhóm của X tìm P đánh trả thù hậu quả P bị tử vong trong quá trình 02 bên rượt đuổi nhau, án sơ thẩm xét xử các bi cáo về tội “ Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đều có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy Bản án sơ thẩm đã xem xét đánh giá tình tiết giảm nhẹ, tính chất mức độ hành vi, hậu quả để xét xử các bị cáo mức án từ 12 và 18 tháng tù là thỏa đáng không nặng, vì vậy đơn kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận.

[5] Tại phiên tòa hôm nay, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng: Có vi phạm trong quá trình thu thập chứng cứ là tang vật liên quan đến vụ án là chiếc xe mô tô hiệu Suzuki Sport mang biển số 77D1 – 269.56 người đứng tên trong giấy tờ xe là Huỳnh Hiệp X. Thấy rằng: Chiếc xe nêu trên là tang vật của vụ án, là phương tiện các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Nhưng CQĐT không tiến hành thu giữ chiếc xe để xử lý là vi phạm quy định tại Điều 105 BLTTHS.

Về mặt pháp lý tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chiếc xe trên vẫn thuộc quyền sở hữu của Huỳnh Hiệp X và X vẫn đang toàn quyền quản lý, sử dụng chiếc xe trên. Theo khoản 2 Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì Công an xã không có thầm quyền chứng thực hợp đồng mua bán xe. Cơ quan điều tra chỉ căn cứ lời khai của X kết quả xác minh tại công an xã (xác định có giấy bán xe và công an xã đã xác nhận vào giấy này). Nhưng không thu thập giấy sang nhượng, để xác định giá trị pháp lý của hợp đồng bán xe giữa Đông và X, là điều tra chưa đầy đủ. Về nguyên tắc chiếc xe nêu trên phải được tịch thu theo quy định tại Điểm a, Khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Vì các lẽ nêu trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 355 điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo Hoàng Ngọc T, Đào Duy Description: C:\Users\DongAnh\AppData\Local\Temp\msohtmlclip1\01\clip_image008.pngĐ, Nguyễn Văn L. Giữ nguyên quyết định của Bản án Hình sự sơ thẩm : 20/2019/HS-ST ngày 21/03/2019, của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đối với các bị cáo Hoàng Ngọc T, Đào Duy Đ, Nguyễn Văn L.

 sự.

* Áp dụng: khoản 1 Điều 245; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự

* Xử phạt:

- Bị cáo Hoàng Ngọc T 18 (mười tám) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

- Bị cáo Đào Duy Đ 12 (mười hai) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

- Bị cáo Nguyễn Văn L 12 (mười hai) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Không chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Hiệp X, Thái Hoàng N, Nguyễn Hồng Q. Chấp nhận đơn kháng cáo của bà Võ Thị T2; bà Phạm Thị T1.

1. Hủy một phần Bản án Hình sự sơ thẩm số: 20/2019/HS-ST ngày 21/03/2019, của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định để điều tra, xét xử lại theo quy định của pháp luật đối với các bị cáo Huỳnh Hiệp X, Thái Hoàng N, Nguyễn Hồng Q.

2. Án phí: Các bị cáo Hoàng Ngọc T, Đào Duy Đ, Nguyễn Văn L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bà Võ Thị T2 và Phạm Thị T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Chuyển hồ sơ về cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định để điều tra lại theo thẩm quyền.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


49
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 214/2019/HSPT ngày 31/07/2019 về tội gây rối trật tự công cộng

Số hiệu:214/2019/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:31/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về