Bản án 212/2020/DS-PT ngày 23/09/2020 về bồi thường thiệt hại tài sản bị xâm phạm

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 212/2020/DS-PT NGÀY 23/09/2020 VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TÀI SẢN BỊ XÂM PHẠM

Vào ngày 23 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 229/2020/TLPT-DS ngày 25 tháng 8 năm 2020 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản bị xâm phạm”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 23/2020/DS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 204/2020/QĐPT-DS ngày 31 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Ngô Văn T, sinh năm 1982 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh C.

- Bị đơn: Anh Trần Phi V, sinh năm 1994 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp t, xã T, huyện T, tỉnh C..

- Người háng cáo: Ông Ngô Văn T - Là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Anh Ngô Văn T trình bày:

Vào lúc 07 giờ ngày 12-8-2019, anh V gọi điện cho anh T nói thuê xe chở khách đi Sài Gòn thì anh T có giao xe ô tô biển số 69A-043.85 để cho anh V điều khiển chở khách đi. Việc giao xe giữa anh và anh V không có làm hợp đồng với nhau, khi hoàn thành công việc anh trả cho anh V 20%, anh T hưởng 80% trên số tiền khách thuê xe thanh toán. Trên đường về lại Cà Mau đến khoảng 23 giờ ngày 12-8-2019 anh V có điện báo cho anh T nói đầu xe bị nứt màn hình, đến khoảng hơn 00 giờ cùng ngày tại địa phận Thành Phố Cần Thơ đã xảy ra va chạm giữa xe anh V đang điều khiển với xe Container làm xe anh T bị hư hỏng. Anh T đem xe đến GARAGE Chiến tại Cần Thơ sửa chữa đến ngày 25-11-2019 thì sửa xong với chi phí sửa xe là 122.650.000 đồng. Công ty bảo hiểm Xuân Thành Miền Tây chịu 50% chi phí sửa chữa xe nói trên. Anh V có đề nghị đưa cho anh T số tiền 30.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại nhưng anh T không đồng ý. Hiện tại anh V có đưa cho anh số tiền 6.000.000 đồng để anh đi đến Sở giao thông T Phố Cần Thơ xử lý vụ va chạm giao thông nói trên và trong đó có 2.000.000 đồng nhận lại bằng lái xe của anh V. Khi giao thông lập biên bản vụ tai nạn thì có giữ xe của anh lại mấy tháng.

Trước ngày 12-8-2019 giữa anh và anh V cũng có thỏa thuận làm ăn một vài lần với nhau, chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không có làm hợp đồng, cụ thể anh anh T giao xe ô tô cho anh V lái xe chở khách đi, khi về anh T trả tiền công cho ông V là 20% trên tổng số tiền khách trả. Nếu xe có hư hỏng thì anh V phải bồi thường, đây là quy luật ngầm hiểu giữa chủ xe và người lái xe, đôi bên không có làm văn bản hay hợp đồng.

Anh T yêu cầu anh V bồi thường các khoản như sau: Chi phí sửa xe với số tiền 61.325.000 đồng (đây là số tiền đã trừ đi 50% phí bảo hiểm đã thanh toán); tiền mất thu nhập do xe bị hư hỏng từ ngày 12-8-2019 đến ngày 25-11-2019 mổi tháng là 18.000.000 đồng.

Anh Trần Phi V trình bày:

Ngày 12-8-2019 có khách thuê xe, anh có thông báo và đề nghị anh T tự lái xe chở khách đi Sài Gòn nhưng anh T giao xe cho anh chở khách đi, anh không có thuê xe của anh T. Khi về anh T sẽ trả cho anh 20% trên số tiền khách thuê xe thanh toán. Trên đường về đến Thành Phố Cần Thơ do thiếu quan sát và không giữ khoảng cách an toàn nên khi xe container dừng lại gần đèn đỏ thì anh xử lý không kịp nên va chạm vào đuôi của xe container khiến cho xe của anh T bị hư hỏng. Sau khi sự việc xảy ra anh vẫn giữ nguyên hiện trường và đã báo với Sở giao thông T Phố Cần Thơ đến lập biên bản. Đồng thời, anh đã thông báo với anh T về sự việc xảy ra. Sau đó, anh và anh T có đến Sở giao thông Cần Thơ, anh T trực tiếp làm việc với cơ quan có thẩm quyền. Anh T đem xe đến GARAGE Chiến tại Cần Thơ sửa chữa đến ngày 25-11-2019 thì sửa xong với chi phí sửa xe là 122.650.000 đồng. Công ty bảo hiểm Xuân Thành Miền Tây hỗ trợ 50% thiệt hại. Sau khi sự việc xảy ra, anh và gia đình có đề nghị bồi thường thiệt hại cho anh T số tiền 15.000.000 đồng nhưng anh T không đồng ý. Đến Ủy ban nhân dân xã Tân Phú hòa giải tính số tiền sửa xe là 62.000.000 đồng và tiền mất thu nhập do xe bị hư là 45 ngày với số tiền là 35.000.000 đồng, khi đó anh T đề nghị anh bồi thường cho anh số tiền 62.000.000 đồng tiền sửa xe, mà không yêu cầu tôi bồi thường tiền mất thu nhập do xe hư, nhưng do anh không có khả năng nên anh chỉ đồng ý bồi thường cho anh T số tiền là 30.000.000 đồng, nên hòa giải không thành. Anh có đưa cho anh T số tiền 6.000.000 đồng để anh T xử lý vụ việc nói trên. Anh không yêu cầu Tòa xem xét số tiền này.

Trong quá trình anh nhận và lái xe ô tô của anh T thì không có thỏa thuận về thiệt hại xe nếu xảy ra. Trường hợp bị giao thông phạt nếu lỗi do tài xế xe thì tài xế phải chịu. Đôi bên không có làm hợp đồng thuê xe. Anh thống nhất thời gian xe của anh T không hoạt động được do vụ va chạm nói trên từ ngày 12-8-2019 đến ngày 25-11-2019, và mỗi tháng xe của anh T chạy thuê thu nhập là 18.000.000 đồng. Anh đồng ý bồi thường thiệt hại cho anh T số tiền 15.000.000 đồng.

Tại Bản án sơ thẩm số: 23/2020/DS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau đã quyết định:

Áp dụng Điều 589, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Văn T về việc yêu cầu anh Trần Phi V bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. Buộc anh V bồi thường cho anh T số tiền là 24.728.000đ (hai mươi bốn triệu bảy trăm hai mươi tám nghìn đồng).

Kể từ ngày anh T có đơn yêu cầu thi hành án, anh V chậm thanh toán khoản tiền nói trên cho anh T, thì phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Anh T phải chịu án phí số tiền 4.946.000đ (bốn triệu chín trăm bốn mươi sáu nghìn đồng, lấy tròn số), ngày 25/12/2019 anh T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 3.573.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0010843 được đối trừ anh T phải nộp tiếp số tiền 1.373.000đ (một triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn đồng). Anh V phải chịu án phí số tiền 1.236.000đ (một triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn đồng).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 30-7-2020, anh Ngô Văn T kháng cáo đề nghị sửa toàn bộ án sơ thẩm, tuyên xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Tại phiên tòa: Ông Ngô Văn T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào ết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét háng cáo của anh Ngô Văn T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Về tố tụng: Tòa sơ thẩm đã thụ lý đúng thẩm quyền và giải quyết đúng quan hệ pháp luật tranh chấp theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

[2]Về nội dung tranh chấp: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Anh T là chủ sở hữu xe ô tô biển kiểm soát 69A – 043.85, anh V là người có đủ điều kiện để điều khiển phương tiện này, anh T xác định ngày 12-8-2019 anh V có thuê xe của anh nhưng anh không có chứng cứ chứng minh, tại biên bản hòa giải ngày 06-02-2020 (Bút lục số 29) anh T thừa nhận anh V kêu anh T đưa xe cho Vút chở khách đi Sài Gòn được anh T chấp nhận và khi hoàn thành công việc anh T trả cho anh V 20%, anh T hưởng 80% trên số tiền khách thuê xe thanh toán, nên việc anh T nói anh V thuê xe của anh là không có cơ sở. Như vậy, ngày 12-8-2019 anh T có giao xe cho anh V điều khiển chở khách đi Sài Gòn khi về đến địa phận Thành Phố Cần Thơ, thì xảy ra va chạm với xe khác làm xe của anh T bị hư hỏng phải sữa chữa tại GARAGE Chiến Cần Thơ với chi phí là 122.650.000 đồng, công ty bảo hiểm Xuân Thành Miền Tây đã bồi thường cho tổn thất xe trên số tiền 60.810.000 đồng (Bút lục số 54) còn lại 61.840.000 đồng. Về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất được tính từ ngày 12-8-2019 đến ngày 25-11- 2019 là 03 tháng 13 ngày x 18 triệu đồng/tháng = 61.800.000 đồng. Tổng các khoản thiệt hại nói trên là 123.640.000 đồng.

[3] Bản án sơ thẩm nhận định: Do anh T nhận 80% trong số tiền khách trả, nên anh T phải chịu 80% thiệt hại, anh V chịu 20% trên số tiền 123.640.000 đồng là 24.728.000 đồng; đối với anh V đã giao cho anh T số tiền 6.000.000 đồng, anh V không yêu cầu đối trừ, nên án sơ thẩm không xem xét, anh V cũng đồng ý với án sơ thẩm không có kháng cáo.

[4] Xét kháng cáo của ông Ngô Văn T cho rằng án sơ thẩm xác định sai thời gian phải là 105 ngày, chứ không phải 03 tháng 13 ngày. Song, do các bên xác định thiệt hại theo tháng, thống nhất mỗi tháng là 18.000.000 đồng, nên từ ngày 12-8- 2019 đến ngày 25-11-2019 là 03 tháng 13 ngày x 18 triệu đồng/tháng = 61.800.000 đồng là đúng. Đối với nguyên đơn kháng cáo cho rằng bị đơn chấp nhận bồi thường số tiền mất thu nhập 15.000.000 đồng, do xe không hoạt động, nhưng án sơ thẩm không chấp nhận, nguyên đơn không đồng ý. Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn chấp nhận tự nguyện bồi thường tiền mất thu nhập 15.000.000 đồng cho việc mất thu nhập cho khoảng thời gian xe không hoạt động được; đối với số tiền sửa xe còn 61.840.000 đồng, Bị đơn chấp nhận theo án sơ thẩm đã tuyên xử thiệt hại nguyên đơn chịu 80%, bị đơn chịu 20%.

[4.1] Do các bên đưa xe vào khai thác chia lợi nhuận 80% - 20% (bên chủ xe hưởng 80% - bên thuê 20%), án sơ thẩm xác định trách nhiệm gắn với quyền lợi, nên tuyên xử buộc nguyên đơn chịu thiệt hại sửa xe 80% là phù hợp. Tuy nhiên, đối với số tiền mất thu nhập, án sơ thẩm xác định bị đơn phải trả cho nguyên đơn 20% là không đúng, mà phải trả 80%, vì đã thỏa thuận bên chủ xe hưởng 80% lợi nhuận, thì tiền thu nhập nguyên đơn cũng phải hưởng 80%. Vì vậy, cần sửa cách tính thiệt hại này của bản án sơ thẩm. Tiền xe bị mất thu nhập 61.800.000 đồng x 80% = 48.648.000 đồng. Đối với tiền sửa xe 61.840.000 đồng x 20% = 12.368.000 đồng. Tổng cộng 02 khoản là 61.016.000 đồng. Do có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, nên cần sửa một phần Bản án sơ thẩm là phù hợp.

[5] Về án phí:

Án phí sơ thẩm: Anh T phải chịu án phí trên số tiền không được chấp nhận là (123.640.000đ – 61.061.000đ = 62.579.000đ x 5% = 3.128.950 đồng), anh T đã nộp tạm ứng án phí nên được đối trừ. Anh V phải chịu án phí trên số tiền bồi thường cho anh T là 3.053.050 đồng.

Án phí phúc thẩm: Anh T không phải chịu, đã dự nộp 300.000 đồng được nhận lại.

Những phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của anh Ngô Văn T.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 23/2020/DS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Văn T về việc yêu cầu anh Trần Phi V bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.

Buộc anh Trần Phi V bồi thường cho anh Ngô Văn T số tiền là 61.016.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu, không trăm mười sáu nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án hông thi hành xong hoản tiền trên, thì người phải thi hành án phải trả thêm hoản lãi theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí:

Án phí sơ thẩm: Anh Ngô Văn T phải chịu số tiền 3.128.950 đồng, ngày 25- 12-2019 anh T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 3.573.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0010843 ngày 25-12-2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình được đối trừ và nhận lại số tiền 444.050 đồng. Anh Trần Phi V phải chịu số tiền là 3.053.050 đồng (chưa nộp).

Án phí phúc thẩm: Ông Ngô Văn T không phải chịu, ngày 31-7-2020 anh T đã dự nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai số: 0011363 tại Chi cục thi hành án huyện Thới Bình được nhận lại.

Những phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án, hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


1
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 212/2020/DS-PT ngày 23/09/2020 về bồi thường thiệt hại tài sản bị xâm phạm

Số hiệu:212/2020/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:23/09/2020
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về