Bản án 212/2019/DS-PT ngày 02/07/2019 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 212/2019/DS-PT NGÀY 02/07/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN

Ngày 02 tháng 7 năm 2019, Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 287/2018/TLPT-DS ngày 14 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 83/2018/DS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện M C B bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 885/2018/QĐ-PT ngày 25 tháng 12 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1957;

Địa chỉ: Ấp Th S 2, xã Th Tl, huyện M C B, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Lê Thị Bảo Tr, sinh năm 1987;

Địa chỉ: Ấp T1 L1 2, xã T1 Th1 B1, huyện M C B, tỉnh Bến Tre. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Lê Tấn D - Chi nhánh Văn phòng luật sư Võ Tân Th1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre. (có mặt)

2. Bị đơn: Anh Phạm Minh T, sinh năm 1970;

Chị Lê Thị L, sinh năm 1980;

Cùng địa chỉ: Ấp Th B1 1, xã T1 Th1 B1, huyện M C B, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện ủy quyền của bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Ấp 7, xã M Th2, huyện G Tr1, tỉnh Bến Tre. (có mặt)

3. Người kháng cáo: Bị đơn anh Phạm Minh T và chị Lê Thị L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm;

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/5/2018 của ông Lê Văn H, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là chị Lê Thị Bảo Tr trình bày:

Từ năm 2016 đến đầu năm 2018, anh Phạm Minh T và chị Lê Thị L có hợp đồng mua bán thức ăn gia súc với ông Lê Văn H. Hình thức mua bán là bao chuồng, khi ra chuồng anh T, chị L thanh toán tiền tương ứng với số lượng thức ăn đã lấy. Mỗi lứa heo là từ 03 đến 04 tháng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng anh T, chị L có thực hiện nhưng các lần thanh toán không trả đủ tiền. Đến ngày 16/02/2018 tổng cộng anh T, chị L còn nợ tiền thức ăn gia súc của ông H là 434.364.000 đồng. Ông H nhiều lần yêu cầu anh T, chị L thanh toán nhưng anh T, chị L không thanh toán. Nay ông H yêu cầu anh T, chị L trả cho ông H tiền vốn là 434.364.000 đồng và tiền lãi 1,5%/tháng tính từ tháng 02/2018 đến tháng 5/2018 là 8.500.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện ủy quyền của bị đơn là anh Nguyễn Hoàng L trình bày:

Vợ chồng anh Phạm Minh T và chị Lê Thị L có mua thức ăn gia súc của cửa hàng thức ăn gia súc Sáu H do ông H làm chủ nhưng mua tiền mặt, không mua thiếu. Nay anh T, chị L không đồng ý với yêu cầu của ông H. Anh T, chị L không yêu cầu giám định tiếng nói trong đoạn ghi âm và cũng không có cung cấp chứng cứ.

Người làm chứng anh Nguyễn Thành T trình bày.

Anh là tiếp thị thức ăn gia súc của Công ty trách nhiệm hữu hạn Vina. Vào năm 2017 anh có đến nhà anh Phạm Minh T, chị Lê Thị L để tiếp thị thức ăn gia súc Vina. Theo quy định Công ty bán hàng phải thông qua đại lý nên công ty anh thông qua đại lý của ông Lê Văn H (lúc đó do anh Lê Tuấn Nh quản lý). Khi anh đến nhà anh T, chị L tiếp thị lúc đó trong chuồng trại của anh T, chị L có khoảng 60 heo nái và vài trăm heo thịt. Sau khi anh T, chị L đồng ý sử dụng cám Vina của công ty thì công ty có hỗ trợ cho anh T 10.000.000 đồng để trừ sổ thức ăn cho đại lý anh Nh. Đến năm 2018 anh đến đại lý anh Nh thì nghe anh Nh nói anh T, chị L không thừa nhận nợ nên anh có gọi đến cho anh T nhưng chị L bắt máy, anh có đề cập đến việc chăn nuôi và số tiền nợ thức ăn giữa đại lý anh Nh và anh T, chị L thì chị L thừa nhận còn nợ đại lý là 434.364.000 đồng. Vì anh làm tiếp thị nên thường ghi âm các cuộc nói chuyện với khách hàng do đó anh đã ghi âm lại cuộc nói chuyện với chị L ngày 17/5/2018, đoạn ghi âm anh đã giao cho chị Tr nộp cho Tòa án. Tại tòa đoạn ghi âm đã phát đúng là của anh cung cấp cho chị Tr.

Người làm chứng anh Trần Khánh H1 trình bày:

Anh là nhân viên của Công ty trách nhiệm hữu hạn Sun Jin Vina Mekong. Vào năm 2017 Công ty có thông qua đại lý của ông H (đại diện lúc đó là anh Lê Tuấn Nh) để chào hàng thức ăn gia súc hiệu Farmsco cho anh T, chị L. Khi anh T, chị L sử dụng thức ăn gia súc của Công ty mỗi bao công ty sẽ hỗ trợ 5.000 đồng. Giữa công ty, đại lý ông H, anh T có ký biên bản thỏa thuận ngày 01/8/2017. Lúc đó chuồng trại của anh T có khoảng 70 con heo nái và khoảng 300 con heo thịt.

Người làm chứng anh Nguyễn Văn H2 trình bày:

Anh làm công cho đại lý ông H, vào tháng 5/2018, anh không nhớ chính xác ngày, sau khi ông H khởi kiện, ông T có đến nói nếu ông H rút đơn khởi kiện thì ông T sẽ trả hết tiền.

Người làm chứng anh Nguyễn Sơn T2 trình bày:

Anh làm công cho đại lý ông H, vào tháng 5/2018, anh không nhớ chính xác ngày, sau khi ông H khởi kiện, ông T có đến nói ông H rút đơn khởi kiện thì ông T sẽ trả hết tiền.

Người làm chứng anh Nguyễn Văn Ch trình bày:

Anh làm công cho đại lý ông H, vào tháng 5/2018, sau khi ông H khởi kiện, ông T có đến nói nếu ông H rút đơn khởi kiện thì ông T sẽ trả hết nợ trong vòng 01 tháng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm s: 83/2018/DS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện M C B, tỉnh Bến Tre đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 428, 438 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016;

Tuyên:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Văn H.

Buộc anh Phạm Minh T và chị Lê Thị L liên đới trả cho ông Lê Văn H số tiền nợ gốc là 434.364.000 đồng, tiền lãi 8.500.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 04/2018/QĐAPBPKCTT ngày 15/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện M C B có hiệu lực đến khi có quyết định hủy bỏ.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo của các đương sự, quyền yêu cầu thi hành án.

Ngày 13/11/2018, bị đơn anh Phạm Minh T và chị Lê Thị L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn vẫn giữ nguyên kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H về việc yêu cầu anh Phạm Minh T và chị Lê Thị L liên đới trả cho ông H số tiền nợ gốc là 434.364.000 đồng và tiền lãi là 8.500.000 đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện M C B.

Kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm và đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, tuyên xử theo hướng không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Phạm Minh T và chị Lê Thị L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyên M C B, tỉnh Bến Tre.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, xét kháng cáo của các bị đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Ông Lê Văn H là chủ hộ kinh doanh Sáu H theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 5518 000940 do Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện M C B cấp ngày 21/3/2011 với ngành nghề kinh doanh là mua bán thức ăn chăn nuôi. Từ năm 2016, vợ chồng anh T và chị L có hợp đồng mua thức ăn gia súc với ông H, đến năm 2018 thì kết thúc hợp đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu anh T và chị L trả tiền thức ăn gia súc cho ông H, số tiền là 434.364.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất 1,5%/tháng từ tháng 02/2018 đến tháng 5/2018. Còn người đại diện theo ủy quyền của bị đơn thừa nhận anh T, chị L có mua thức ăn gia súc của ông H nhưng mua bằng tiền mặt và không có nợ tiền thức ăn của ông H. Như vậy, có căn cứ xác định, giữa ông Lê Văn H với anh Phạm Minh T, chị Lê Thị L có hợp đồng mua bán tài sản (cụ thể là thức ăn chăn nuôi gia súc), tuy nhiên giữa hai bên không thống nhất về số tiền nợ.

[2] về xác định số tiền nợ cụ thể

Xét chứng cứ là sổ giao thức ăn do người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giao nộp cho Tòa án có chữ ký “T” (tại bút lục số 52, 53), theo kết luận giám định số 57/2019/GĐTL ngày 05/3/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre thì không đủ cơ sở để kết luận đó là chữ ký của anh T.

Tuy nhiên, xét chứng cứ là đoạn ghi âm giọng nói do người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp, đoạn thứ nhất chứa nội dung thể hiện cuộc nói chuyện giữa anh Nh (là con ruột của ông H) với anh T về số tiền thức ăn còn nợ, đoạn thứ hai chứa nội dung cuộc nói chuyện giữa anh Tân (người tiếp thị thức ăn gia súc) với chị L, trong đó chị L thừa nhận còn nợ ông H số tiền là 434.364.000 đồng. Căn cứ vào kết luận giám định số 2227/C09B ngày 11/6/2019 của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận giọng nói được gọi là “chú Năm” và “chị Năm” trong hai đoạn ghi âm do phía nguyên đơn cung cấp là giọng nói của anh T và chị L, thể hiện anh T và chị L có nợ tiền thức ăn của ông H với số tiền là 434.364.000 đồng. Do đó, đủ căn cứ xác định, anh T và chị L có nợ tiền thức ăn của ông H với số tiền là 434.364.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét toàn bộ các chứng cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H là có căn cứ.

[3] Đối với yêu cầu tính lãi 1,5%/tháng từ tháng 02/2018 đến tháng 5/2018 của nguyên đơn

Anh T và chị L đã vi phạm hợp đồng nên ông H yêu cầu tính lãi là có căn cứ. Tuy nhiên, ông H yêu cầu tính lãi 1,5%/tháng là cao so với quy định của pháp luật. Giữa ông H với anh T, chị L giao dịch mua bán với nhau vào năm 2017 nhưng không có thỏa thuận về lãi suất nên phần lãi chỉ được tính theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước là 9%/năm (tương đương 0.75%/tháng). Như vậy, tiền lãi được tính như sau: 434.364.000 đồng x 0.75%/tháng x 4 tháng = 13.030.920 đồng. Theo đơn khởi kiện, ông H chỉ yêu cầu tiền lãi là 8.500.000 đồng, thấp hơn số tiền lãi được tính nêu trên là có lợi cho phía bị đơn nên được chấp nhận. Do đó, buộc anh T và chị L phải trả cho ông H số tiền lãi là 8.500.000 đồng.

[5] Đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 04/2018/QĐAPBPKCTT ngày 15/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện M C B, tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không yêu cầu tòa án hủy quyết định này. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 04/2018/QĐAPBPKCTT ngày 15/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện M C B.

Từ những căn cứ nêu trên, xét kháng cáo của bị đơn anh Phạm Minh T và chị Lê Thị L là không có cơ sở chấp nhận, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số83/2018/DS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện M C B, tỉnh Bến Tre.

[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[7] Về chi phí giám định: Anh Phạm Minh T và chị Lê Thị L phải chịu 4.620.000 đồng. Ghi nhận anh T, chị L đã nộp xong.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh T, chị L phải liên đới chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng. Ghi nhận anh T, chị L đã nộp xong.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 428, Điều 438 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Minh T và chị Lê Thị L.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 83/2018/DS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện M C B, tỉnh Bến Tre.

Cụ thể tuyên:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H.

Buộc anh Phạm Minh T và chị Lê Thị L có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Lê Văn H số tiền nợ gốc là 434.364.000 đồng (Bốn trăm ba mươi bốn triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn đồng) và tiền lãi là 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Giữ nguyên quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 04/2018/QĐAPBPKCTT ngày 15/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện M C B, tỉnh Bến Tre.

3. Chi phí giám định: Anh Phạm Minh T và chị Lê Thị L phải liên đới chịu 4.620.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng). Ghi nhận anh T, chị L đã nộp xong.

4. Án phí dân sự sơ thẩm:

Anh Phạm Minh T và chị Lê Thị L phải liên đới nộp 21.714.000 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm mười bốn nghìn đồng).

Trả lại cho ông Lê Văn H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.857.000 đồng (Mười triệu tám trăm năm mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009349 ngày 15/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện M C B, tỉnh Bến Tre.

5. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Anh Phạm Minh T và chị Lê Thị L phải liên đới nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009686 ngày 13/11/218 Chi cục Thi hành án dân sự huyện M C B, tỉnh Bến Tre.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 212/2019/DS-PT ngày 02/07/2019 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

Số hiệu:212/2019/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:02/07/2019
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về