Bản án 21/2019/HNGĐ-ST ngày 04/05/2019 về ly hôn giữa chị Nh và anh Th

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BN TRE, TỈNH BN TRE

BẢN ÁN 21/2019/HNGĐ-ST NGÀY 04/05/2019 VỀ LY HÔN GIỮA CHỊ NH VÀ ANH TH

Ngày 07 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2019 về tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Lê Thị Nh, sinh năm 1994.

Địa chỉ: ấp B, xã AT, huyện TP, tỉnh Bến Tre.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1989.

Địa chỉ: ấp A, xã SĐ, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.

Bà Nh có mặt, ông Th vng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 15/02/2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Lê Thị Nh trình bày: Giữa bà và ông Nguyễn Văn Th tự nguyện tìm hiểu, tiến tới hôn nhân và đã được Ủy ban nhân dân xã AT, huyện TP, tỉnh Bến Tre cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi cưới bà về sống chung với gia đình chồng, hai vợ chồng cùng đi làm, đời sống hôn nhân có hạnh phúc. Đến năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bà sinh con, ông Th không chịu tìm việc làm khác, lại thường xuyên nhậu say, không quan tâm đến vợ con, bà có khuyên ngăn nhiều lần nhưng không khắc phục được. Bà đã bỏ về sống với cha mẹ ruột từ tháng 01 năm 2017, sau đó ông Th có theo bà về quê nhưng cũng không lo làm việc, không tạo ra thu nhập để nuôi vợ con. Ông bà chính thức ly thân từ tháng 12 năm 2017, ông Th cũng đã quay về sống với cha mẹ ruột và hiện đang là tài xế lái xe đường dài. Do xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa giải quyết cho bà được ly hôn với ông Th.

Về con chung: có Nguyễn Lê H, sinh ngày 13/9/2016, hiện đang sống với bà, bà yêu cầu được quyền nuôi con, yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi cháu Hiếu tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có

Bị đơn ông Nguyễn Văn Th đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, của Hội đồng xét xử tại phiên tòa và của người tham gia tố tụng là đúng với quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Bà Lê Thị Nh và ông Nguyễn Văn Th tự nguyện kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã AT, huyện TP, tỉnh Bến Tre cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 16/6/2014 nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Do ông Th cư trú trên địa bàn thành phố BT nên Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre thụ lý giải quyết vụ kiện “Xin ly hôn” nêu trên là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Tại phiên tòa, bà Nh vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với ông Th. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành xác minh thì được biết giữa bà Nh và ông Th xảy ra mâu thuẫn đã lâu, bà Nh về TP sống cách nay khoản 02 năm, ông Th có về quê vợ sống khoản 01 năm sau đó trở về nhà cha mẹ ruột sinh sống đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy: trong quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án mặc dù ông Th biết nhưng cũng không đến để thuyết phục bà Nh, cũng không có nhu cầu hàn gắn tình cảm vợ chồng chứng tỏ mục đích hôn nhân giữa ông bà không đạt được, quan hệ hôn nhân giữa bà Nh và ông Th đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nh.

[3] Về con chung: cháu Nguyễn Lê H, sinh ngày 13/9/2016 hiện đang sống với mẹ, bà Nh yêu cầu được quyền nuôi con. Do con chung dưới 36 tháng tuổi nên Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu được nuôi con chung của bà Nh. Ngoài ra bà Nh còn có yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng. Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con” Hội đồng xét xử xét thấy mức cấp dưỡng mà bà Nh yêu cầu là hợp pháp và hợp lý nên chấp nhận, buộc ông Th phải cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ ngày tuyên án cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: bà Nh khai không có nên không xem xét đến.

[4] Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cùng giấy triệu tập để dự phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bị đơn.

[5] Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con các đương sự phải nộp theo quy định của Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Điều 51; 56; 81 và 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa bà Lê Thị Nh và ông Nguyễn Văn Th.

2. Về con chung: bà Lê Thị Nh được quyền nuôi Nguyễn Lê H, sinh ngày 13/9/2016.

Ông Th phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 (Một triệu) đồng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ ngày tuyên án đến khi con chung tròn 18 (Mười tám) tuổi.

Ông Th được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: bà Nh khai không có nên không xem xét giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Án phí xin ly hôn là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng bà Lê Thị Nh phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000903 ngày 22/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố BT. Bà Nh đã nộp đủ án phí.

- Án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: ông Nguyễn Văn Th phải nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

284
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2019/HNGĐ-ST ngày 04/05/2019 về ly hôn giữa chị Nh và anh Th

Số hiệu:21/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 04/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về