Bản án 21/2018/DS-ST ngày 17/11/2018 về yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN

BẢN ÁN 21/2018/DS-ST NGÀY 17/11/2018 VỀ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TÀI SẢN BỊ XÂM PHẠM

Ngày 17 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2018/TLST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2018 về việc “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2018/QĐXX-ST ngày 02 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Kim Th – sinh năm 1968; Địa chỉ: thôn H, xã M, huyện A, tỉnh Phú Yên, có mặt.

* Bị đơn: Bà Lê Thị T – sinh năm 1969; Địa chỉ: thôn H, xã M, huyện A, tỉnh Phú Yên, có mặt.

* Người làm chứng: Chị Phạm Thị G – sinh năm 1973; Địa chỉ: thôn H, xã M, huyện A, tỉnh Phú Yên, có đơn xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Hồ Thị Kim Th trình bày: Ngày 12/01/2018, bà có đến nhà chị Phạm Thị G ở thôn H, xã M, hyện A, tỉnh Phú Yên để dào bánh ngọt đi biếu những người hàng xóm. Tại đây khoảng 20 phút sau bà T đến nhìn thấy bà thì chửi mắng và cho rằng trước đây bà có trai gái với chồng bà T. Sau đó giữa bà và bà T xô xát đánh nhau. Bà có lấy chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime để ghi âm, bà T chạy đến giật chiếc điện thoại nhưng không được, bà liền đưa chiếc điện thoại trên cho chị Phạm Thị G giữ dùm thì bất ngờ bà T giật chiếc điện thoại trên tay chị G đập vỡ và bị hư hỏng. Sau đó bà có mời chính quyền địa phương đến làm việc. Nay bà yêu cầu bà T phải có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ thiệt hại tài sản là giá trị của chiếc điện thoại với số tiền là 1.840.300 đồng, trả 01 lần, theo kết luận định giá tài sản của cơ quan Công an huyện Tuy An.

Theo tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa bị đơn bà Lê Thị T trình bày: Năm 2016 chồng bà là Nguyễn Văn T và bà Th có ngoại tình với nhau, việc này là do bà Th chủ động rủ rê chồng bà. Do bức xúc việc này nên ngày 12/01/2018 bà có gặp bà Th tại nhà chị Phạm Thị G thì giữa bà và bà Th xảy ra cãi vã, xô xát. Bà Th lấy điện thoại ra quay phim cho nên bà bức xúc giật chiếc điện thoại của bà Th đập vỡ hư hỏng. Bà thừa nhận việc làm của bà là sai, bà chấp nhận bồi thường thiệt hại tài sản cho bà Th toàn bộ số tiền 1.840.300 đồng, theo hình thức bồi thường cứ mỗi tháng bồi thường 200.000 đồng cho đến khi bồi thường xong khoản tiền trên.

Các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình, không thỏa thuận được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký và những người tham gia tố tụng tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng Điều 589 của Bộ Luật dân sự: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Kim Th, buộc bà Lê Thị T phải trả cho bà Th giá trị điện thoại Samsung Galaxy J2 Prime với số tiền 1.840.300đ. Về án phí: bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Hồ Thị Kim Th khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị T trả tiền giá trị tài sản là điện thoại Sam sung Galaxy J2 Prime bị hư hỏng. Các đương sự đều có hộ khẩu tại huyện A, tỉnh Phú Yên. Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên thụ lý vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền quy định tại khoản 6 Điều 26 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền giá trị điện thoại bị hư hỏng 1.840.300đ. Đây là Yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm theo Điều 589 của Bộ luật dân sự.

Xét yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Do mâu thuẫn với nhau về việc bà T cho rằng bà Th ngoại tình với chồng bà T nên ngày 12/01/2018 tại nhà chị Phạm Thị G ở thôn H, xã M, huyện A, tỉnh Phú Yên xảy ra cãi vã xô xát. Trong lúc xảy ra xô xát bà Th có dùng điện thoại di động Sam sung Galaxy J2 Prime để ghi âm, bà T giật lấy không được. Bà Th nhờ chị G cầm giúp thì bà T giật điện thoại trên tay chị G đập vỡ. Giá trị điện thoại bị hư hỏng là 1.840.300đ theo biên bản định giá tài sản của Công an huyện Tuy An. Tại phiên tòa bà T cũng thữa nhận điện thoại của bà Th là do bà T giật lấy và đập xuống đất. Lời khai của người làm chứng chị Phạm Thị G cũng khẳng định điện thoại là do bà T giật lấy từ tay chị G đập xuống kệ ngồi của nhà chị G làm hư hỏng.

Từ các chứng cứ trên, Hội đồng xét xử thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà T phải có nghĩa vụ trả cho bà Th giá trị của điện thoại Sam sung Galaxy J2 Prime với số tiền 1.840.300đ (Một triệu tám trăm bốn mươi nghìn ba trăm đồng).

* Về án phí: bà Th không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Bà T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 35; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 589 của Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị Kim Th đối với bị đơn bà Lê Thị T. Buộc bà T có nghĩa vụ trả cho bà Th số tiền 1.840.300đ (Một triệu tám trăm bốn mươi nghìn ba trăm đồng).

Về án phí: bà Hồ Thị Kim Th không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho bà Th 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền ký hiệu AA/2015/0011453 ngày 25/7/2018 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tuy An.

Bà Lê Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành, nếu bênphải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự đối với số tiền chưa thi hành.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


100
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về