Bản án 21/2017/HNGĐST ngày 15/08/2017 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 21/2017/HNGĐST NGÀY 15/08/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 15 tháng 8 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 52/2017/TLST–HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2017 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2017/TLST – HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Ngô Trí Th – sinh năm 1994 (có mặt),

Trú tại: Thôn Đông Yên, Đông Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh;

Bị đơn: Chị Vũ Thị N – sinh năm 1995 (có mặt),

Trú tại: Thôn Đông Yên, Đông Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện và các lời trình bày tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn là anh Ngô Trí Th trình bày: Anh và chị Vũ Thị N kết hôn ngày 10/12/2013 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu sau đó cùng nhau đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đông Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh theo đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do vợ anh có mối quan hệ ngoài hôn nhân với người đàn ông khác, anh đã nhiều lần khuyên can nhưng không được, cũng vì lý do này mà từ đó vợ chồng xảy ra nhiều bất đồng, mâu thuẫn, không còn yêu thương nhau nữa. Vợ chồng anh cũng đã ly thân từ khi anh phát hiện chị N có mối quan hệ với người đàn ông khác; nay anh cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin Tòa án cho anh được ly hôn với chị N.

Về con chung: vợ chồng anh có 01 con chung là cháu Ngô Trí Hải Ph, sinh ngày 27/5/2014, hiện nay cháu Ph vẫn đang ở với anh, khi ly hôn anh Th có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Về điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh Th cho rằng bản thân anh có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con chung tốt hơn chị N vì: hiện anh đang làm chủ một quán internet có khoảng 20 máy tính, thu nhập thường xuyên hàng tháng của anh khoảng 13-15 triệu đồng. Công việc của anh thường xuyên làm tại nhà nên có đủ điều kiện về vật chất và thời gian cho chăm sóc con. Đối với chị N, anh cho rằng chị là người không chung thủy, bỏ bê gia đình, đã từng có mối quan hệ ngoài hôn nhân nên không phải người chú tâm cho việc chăm sóc cháu nhỏ; ngoài ra công việc của chị hiện tại là làm công nhân cho công ty Samsung, tính chất công việc thường xuyên làm ca đêm, ngày (đổi liên tục) nên không đảm bảo thời gian chăm sóc con tốt như anh.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: nếu được trực tiếp nuôi cháu Ph, anh không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Th cũng cung cấp các chứng cứ bao gồm: giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của Ủy ban nhân dân xã Đông Phong cấp ngày 10/12/2013; bản sao giấy khai sinh con mang tên Ngô Trí Hải Ph; các giấy tờ chứng minh đăng ký kinh doanh và thu nhập hàng tháng của anh.

Tại bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án chị Vũ Thị N trình bày: chị xác nhận lời trình bày của anh Th về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn cũng như thời điểm xảy ra mâu thuẫn, song chị cho rằng nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn chủ yếu là do anh Th là người ghen tuông quá mức, thổi phồng sự thật dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trở nên sâu sắc, bản thân chị đi làm trong môi trường công ty nên có đồng nghiệp nhắn tin hỏi han bình thường chứ không hề có quan hệ ngoại tình; cũng chính từ nguyên nhân ghen tuông nên anh Th ngày càng bỏ bê gia đình, lạnh nhạt với vợ con và có quan hệ ngoài hôn nhân với người khác. Kể từ đầu năm 2016, mâu thuẫn của anh chị ngày càng trầm trọng, anh chị tuy ở chung nhà nhưng đã ly thân, dù gia đình nội ngoại đã nhiều lần hòa giải nhưng đến nay tình cảm vợ chồng vẫn chưa thể hàn gắn được. Nay, anh Th làm đơn đề nghị giải quyết ly hôn chị không chấp nhận, chị cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn, nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc vợ chồng chưa thực sự thấu hiểu nhau, do vợ chồng chị còn trẻ nên cái tôi cao, chưa thể hòa giải nên chị yêu cầu Tòa án bác yêu cầu ly hôn của anh Th để vợ chồng chị tiếp tục chung sống và cùng nhau hóa giải những mâu thuẫn.

Về con chung: chị Vũ Thị N xác nhận vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Ngô Trí Hải Ph, sinh ngày 27/5/2014, hiện nay cháu Phong vẫn đang ở cùngchị và anh Th tại nhà anh Th. Nếu phải ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Về điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị N cho rằng bản thân chị có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con chung tốt với anh Th vì: cháu Ph còn nhỏ (nay cháu mới hơn 03 tuổi), việc giao con cho chị chăm sóc sẽ đảm bảo tốt hơn các điều kiện cho cháu; bên cạnh đó chị cho rằng anh Th có mối quan hệ ngoài hôn nhân với người khác, bỏ bê gia đình nên không thể chăm sóc con tốt hơn chị.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: nếu được trực tiếp nuôi con, chị không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: chị N không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị N cũng cung cấp các chứng cứ bao gồm: các giấy tờ liên quan đến thu nhập của chị chứng minh cho điều kiện nuôi con chung.

Tại phiên toà hôm nay, phía nguyên đơn là anh Ngô Trí Th vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn chị Vũ Thị N đồng thời vẫn giữ nguyên quan điểm xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung khi ly hôn và không yêu cầu chị N phải đóng góp phí tổn nuôi con.

Về phía chị N tại phiên tòa nhất trí đồng ý ly hôn. Về nuôi dưỡng con chung chị cũng có đề nghị được nuôi dưỡng con chung và cho rằng mặc dù chị thường xuyên đi làm ca ngày (đêm) nhưng nếu ly hôn, chị sẽ về ở cùng bố, mẹ chị nên có đủ điều kiện chăm sóc con.

Kết thúc phần tranh tụng, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng. Cả Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81,82,83 Luật hôn nhân, gia đình xử:

- Cho anh Ngô Trí Th ly hôn với chị Vũ Thị N.

- Giao con chung là Ngô Trí Hải Ph cho anh Th nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng nuôi con: không xem xét giải quyết do các đương sự không có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Anh Ngô Trí Th và chị Vũ Thị N kết hôn ngày 10/12/2013 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn theo qui định của pháp luật nên xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cùng nhau ngay và ở chung với bố mẹ anh Th. Vợ chồng anh chị sống hoà thuận, hạnh phúc được khoảng 02 năm đầu sau khi kết hôn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cả hai anh chị đều nghi ngờ nhau có quan hệ ngoại tình; kể từ sau khoảng thời gian này, anh chị cũng đã ly thân cho đến khi anh Th làm đơn ra Tòa án, mâu thuẫn vẫn không thể hàn gắn được. Nay anh Th cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy anh đề nghị được ly hôn chị N. Tại phiên tòa hôm nay, phía chị N cũng xác nhận về tình trạng mâu thuẫn của anh chị và nhất trí đồng ý ly hôn. Xét sự thỏa thuẫn ly hôn của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và không vi phạm điều cấm của luật do đó xét thấy cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Ngô Trí Th và chị Vũ Thị N.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Ngô Trí Hải Ph, sinh ngày 27/5/2014, khi ly hôn cả anh Th và chị N đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ph.

Qua xem xét nguyện vọng của anh chị, Hội đồng xét xử xét thấy con chung của anh chị là cháu Ngô Trí Hải Ph sinh ngày 27/5/2014 tức cháu đã bước qua 36 tháng tuổi không còn quá nhỏ để cần được có sự ưu tiên đặc biệt cho mẹ chăm sóc theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Qua xem xét điều kiện và mức thu nhập của cả hai anh chị thì thấy cả anh Th và chị N đều có điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ph. Tuy nhiên, qua lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa cũng như quá trình xác minh tại gia đình và địa phương nơi anh chị cư trú thì thấy tại thời điểm hiện nay anh Th đang làm công việc kinh doanh Internet tại địa phương, còn chị N đang làm công nhân tại công ty Samsung, tính chất công việc của chị N là làm việc theo ca trong đó có 04 ngày làm ca ngày và 03 ngày làm ca đêm trong một tuần vì vậy có phần nào sẽ ảnh hưởng đến việc chăm sóc con, do vậy tại thời điểm này thì việc giao cháu Ph cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng sẽ đảm bảo tốt hơn cho cháu Ph để phát triển thể chất; bên cạnh đó, nơi làm việc của chị N gần với gia đình anh Th (khu công nghiệp Samsung, Yên Phong, Bắc Ninh) nên nếu giao con chung cho anh Th trực tiếp nuôi sẽ đảm bảo cho việc thăm nom con dễ dàng hơn, vì vậy nay anh chị ly hôn thì cần giao cháu Ph cho anh Th nuôi dưỡng là phù hợp.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: anh Th và chị N không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Anh Th phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28; 35; 97; 146; 147; 227; 232; 235; 264; 266; 267 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016; Xử:

1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Ngô Trí Th và chị Vũ Thị N.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Ngô Trí Hải Ph, sinh ngày 27/5/2014 cho anh Ngô Trí Th trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét do đương sự không có yêu cầu. Anh Ngô Trí Th cùng các thành viên gia đình không ai được cản trở chị Vũ Thị N trong việc thăm nom con sau khi ly hôn.

3. Về án phí: Anh Ngô Trí Th phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (Xác nhận anh Th đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2012/03380 ngày 30/5/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong).

Nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


148
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2017/HNGĐST ngày 15/08/2017 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:21/2017/HNGĐST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Phong - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:15/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về