Bản án 21/2017/DS-ST ngày 30/06/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

BẢN ÁN 21/2017/DS-ST NGÀY 30/06/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 30 tháng 6 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bà, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2017/TLST- DS ngày 10-5-2017 về  tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2017/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 06 năm 2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng A (VP Bank). Địa chỉ trụ sở chính: Tầng B Tòa nhà C, số Q đường W, phường E, quận R, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hiền T – Chức vụ: Trưởng phòng thu hồi nợ pháp lý kiêm quản lý pháp chế cho phòng an ninh và phòng kiểm soát gian lận, phòng thu hồi nợ pháp lý, trung tâm thu hồi nợ - Khối tín dụng tiêu dùng – Ngân hàng A(Theo văn bản ủy quyền số 16/2016/UQ-CT ngày 10/8/2016 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng A);

Ông Lê Hiền T ủy quyền lại cho ông Dương Thanh T, sinh năm 1987(có mặt).

HKTT: Tổ T, ấp Đ, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Địa chỉ liên hệ: Số Y đường U, phường I, thành phố Bà R, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu (Theo Văn bản ủy quyền số 1072/2017/UQ-GĐK-TDTD ngày 20/04/2017 của Trưởng phòng thu hồi nợ pháp lý kiêm quản lý pháp chế cho phòng an ninh và phòng kiểm soát gian lận, phòng thu hồi nợ pháp lý, trung tâm thu hồi nợ - Khối tín dụng tiêu dùng – Ngân hàng A)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Duy P, sinh năm 1984 (có mặt).

Trú tại: Tổ O, ấp B, xã P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20-4-2017, quá trình hòa giải tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:

Ngày 01/11/2014, ông Nguyễn Duy P có ký hợp đồng tín dụng số 20141111-113003-0003 với với Ngân hàng A vay số tiền 25.200.000 đ với lãi 3.75%/tháng tính theo dư nợ gốc trả giảm dần, để vay tiêu dùng cá nhân, không có thế chấp tài sản.

Theo thỏa thuận hợp đồng, ông P có trách nhiệm thanh toán số tiền 35.103.000đ, (Trong đó tiền gốc là 25.200.000đ, tiền lãi là 9.903.000đ) trả chậm trong 18 tháng, theo đó 17 tháng đầu mỗi tháng trả 1.951.000 đồng, tháng cuối trả 1.936.000.đồng, thanh toán vào ngày 17 hằng tháng. Bắt đầu thanh toán từ ngày 01/7/2014. Thực hiện hợp đồng, ông P đã nhận đủ số tiền đã vay và thanh toán cho ngân hàng 3 kỳ với tổng số tiền 5.853.000đ, trong đó tiền gốc 3.132.589 đ và lãi 2.720.411đ. Từ  ngày 16/3/2015 ông P không đóng bất kỳ khoản nào cho ngân hàng nữa.

Vậy đến nay ông P còn nợ gốc và lãi tổng cộng là 29.250.000đ. Tuy nhiên vì xét thấy hoàn cảnh ông P khó khăn nên ngân hàng giảm toàn bộ tiền lãi cho ông P. Ngân hàng A chỉ yêu cầuTòa án giải quyết buộc ông P phải thanh toán cho Ngân hàng A số tiền gốc còn nợ là 22.067.411đ, cùng với tiền lãi chậm trả từ ngày xét xử (30/6/2017) cho đến khi trả hết nợ. Ngân hàng xác định chỉ yêu cầu cá nhân ông Nguyễn Duy P có trách nhiệm thanh toán nợ ngân hàng, vì ông P vay với mục đích là tiêu dùng cá nhân nên Ngân hàng không yêu cầu vợ ông P cùng có trách nhiệm thanh toán.

Tại bản khai, quá trình hòa giải tại tòa và tại phiên tòa bị đơn Nguyễn Duy P trình bày:

Về tất cả quá trình ký kết các hợp đồng tín dụng giữa ông và Ngân hàng A, về số nợ gốc và lãi tồn đọng ông đồng ý với lời trình bày của Ngân hàng. Tuy nhiên hiện nay ông cũng đang rất khó khăn nên ông không có khả năng thanh toán một lần cho Ngân hàng. Ông đã thanh toán cho Ngân hàng được 03 kỳ với tổng số tiền là 5.853.000đ, trong đó tiền gốc 3.132.589 đ và lãi 2.720.411đ. Ông xác nhận số tiền nợ gốc ông còn nợ Ngân hàng là 22.067.411đ Nay trước yêu cầu của Ngân hàng ông đề nghị Ngân hàng cho ông thanh toán mỗi tháng 1.000.000đ cho tới khi hết toàn bộ số nợ. Ông P xác định số nợ trên ông vay với mục đích tiêu dùng cá nhân, không liên quan đến vợ ông, nên ông sẽ có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng.

Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự có ý kiến nhƣ sau:

-Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Chủ tọa phiên tòa đã xác định đúng quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết và thời hiệu khởi kiện. Việc thu thập chứng cứ đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với Hội thẩm nhân dân và Thư ký Tòa án: Đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Đối với các đương sự: Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông P có nghĩa vụ thanh toán số nợ 22.067.411đ ( Hai mươi hai triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn bốn trăm mười một đồng) cho ngân hàng A.

-Về án phí: Đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

-Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng A khởi kiện ông Nguyễn Duy P về tranh chấp hợp đồng tín dụng không có mục đích kinh doanh được ký kết giữa các bên, nên Tòa án xác định đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại thành phố Bà Rịa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung:

[1]Lời khai của đại diện Ngân hàng A tại phiên tòa hôm nay về quá trình ký kết và nội dung hợp đồng tín dụng, hoàn toàn phù hợp với chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án gồm: Bản sao đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số hiệu hồ sơ AN 01994 và Phê duyệt của ngân hàng ngày 17/11/2014.

Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ để kết luận: ông P đã đã ký hợp đồng tín dụng vay của ngân hàng A số tiền gốc là 25.200.000đ đ,với lãi suất 3.75%/tháng là có thật. Ông P là người vay tiền và đã nhận đầy đủ số tiền vay, kỳ hạn trả nợ lần đầu ngày 01/7/2014 và kỳ hạn trả nợ cuối cùng là ngày 17/5/2016. Tuy nhiên ông P mới thanh toán được 03 kỳ ( 03 tháng) với tổng số tiền 5.853.000đ, trong đó tiền gốc 3.132.589 đ và lãi 2.720.411đ, còn lại 15 kỳ (15 tháng) ông P không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận là vi phạm hợp đồng. Xét mục đích vay của ông P để tiêu dùng cá nhân bằng hình thức tín chấp, không thế chấp tài sản bảo đảm, khi ký kết hợp đồng chỉ cá nhân ông P ký, không có vợ ông P tham gia giao dịch, mặt khác Ngân hàng xác định chỉ yêu cầu cá nhân ông P thanh toán nợ và bản thân ông P cũng xác nhận việc ông vay nợ không liên quan đến vợ của ông nên Hội đồng xét xử có căn cứ để xác định đây là nợ cá nhân của ông P.

[2]Ông P không nộp được cho Tòa án bất kỳ tài liệu chứng cứ gì, nhưng ông P khai đã đóng gốc và lãi được 03 kỳ với tổng số tiền 5.853.000đ, trong đó tiền gốc 3.132.589 đ, tiền lãi 2.720.411đ là hoàn toàn phù hợp với lời khai của nguyên đơn. Như vậy, việc Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu ông P có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc còn 22.067.411đ, là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]Về tiền lãi: Xét đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số hiệu hồ sơ AN 01994 có thỏa thuận về lãi suất. Tại thời điểm vay, các bên thỏa thuận lãi suất là 3.75%/tháng tức 45/% một năm là vượt quá lãi suất giới hạn theo khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự tức vượt quá 150% của khoản tiền vay.Tuy nhiên do thỏa thuận giữa ông P và ngân hàng là thỏa thuận về Hợp đồng tín dụng nên phải chịu sự điều chỉnh của Luật tổ chức tín dụng, theo khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng mà không theo quy định tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự. Tại phiên tòa hôm nay phía ngân hàng chỉ yêu cầu ông P thanh toán tiền nợ gốc còn lại mà không yêu cầu thanh toán lãi, vì thế Hội đồng xét xử không xem xét về phần tiền lãi này.

[4] Về phần lãi chậm trả: tại phiên tòa, ngân hàng đồng ý cho bị đơn tiếp tục trả lãi trên số tiền nợ gốc còn lại từ ngày xét xử (30/6/2017) cho đến khi trả hết nợ theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

[5]Về án phí: Ông P phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền nợ phải thanh toán theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 3 điều 26 và điểm a khoản 1 điều 35, Điều 36, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 471, 474, 476 Bộ luật dân sự 2005.

- Khoản 2 Điều 3, Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng.

- Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

- Điều 5, điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án; Khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án

Tuyên xử:Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A đối với ông Nguyễn Duy P. Buộc ông Nguyễn Duy P phải thanh toán cho của Ngân hàng A số nợ gốc còn lại là tính đến ngày 30/6/2017 là 22.067.411đ ( Hai mươi hai triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn bốn trăm mười một đồng) và tiếp tục trả lãi trên số tiền nợ gốc còn lại từ ngày 30/6/2017 cho đến khi trả hết nợ mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả cho bên được thi hành án số tiền lãi suất theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền chưa thi hành án và thời gian chưa thi hành án

2. Về án phí: Ông Nguyễn Duy P phải nộp 1.103.371( Một triệu một trăm lẻ ba nghìn ba trăm bảy mươi mốt đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng A số tiền 552.000đ ( Năm trăm năm mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005034 ngày 05/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


126
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về