Bản án 210/2017/HSST ngày 26/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 210/2017/HSST NGÀY 26/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 26/9/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 216/2017/HSST ngày 25/8/2017 đối với bị cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2017/QĐXXST-HS ngày 15/9/2017 đối với bị cáo:

Họ tên: Lê Quang C; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1985; tại: Điện Biên. Nơi ĐKNKTT: SN 19B, Tổ 8, phường N, TP. Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn M và bà: Lê Tú O có vợ là: Bùi Thị H và 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/6/2017. Bị cáo có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 07/6/2017, Lê Quang C từ nhà ở tổ 8, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên thuê xe ôm đi đến đội 5 xã Thanh Yên,huyện Đ tìm mua Heroin để sử dụng. Đến nơi,C trả tiền xe ôm rồi đi bộ một mình vào đến khu vực giữa đội 5 thì gặp một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 45 tuổi (Chung không rõ lai lịch). Qua trao đổi,C đã mua được của người đó 01 gói Heroin với giá 200.000đ. Sau đó,C cầm gói Heroin trên tay trái và đi về nhà. Hồi 20 giờ 10 phút cùng ngày, khiC về đến khu vực đội 4B xã Thanh Yên,huyện Đ thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã Thanh Yên bắt quả tang, thu giữ trên tay trái củaC 01 gói bên ngoài gói bằng nilon màu trắng, bên trong là nilon màu hồng có chứa các cục bột màu trắng (nghi Heroin).

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 07/6/2017 đã xác định số chất bột mầu trắng thu giữ của Lê Quang C có khối lượng 0,28 gam. Tại bản kết luận giám định số: 553/GĐ - PC54 ngày 08/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột mầu trắng thu giữ của Lê Quang C gửi giám định là Heroin.

Tại bản Cáo trạng số 148/QĐ - VKS - HS ngày 24/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Lê Quang C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194/BLHS năm 1999. Tại phiên tòa trong phần tranh luận đại diện VKSNDhuyện Đ, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46/Bộ luật hình sự năm 1999; Điểm c Khoản 1 Điều 249; Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm h Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điểm a Khoản 2 Điều 76/BLTTHS xử lý vật chứng của vụ án. Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Quang C một lần nữa đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Mọi lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng và lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố.

 [1]. Về hành vi của bị cáo: Ngày 07/6/2017, Lê Quang C bị bắt quả tang khi đang có hành vi cất giấu 01 gói Heroin có khối lượng 0,28 gam nhằm mục đích để sử dụng. Với hành vi và khối lượng Heroin bị thu giữ thì bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 và Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của bị cáo.

 [2]. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn tiếp tay cho những kẻ chuyên buôn bán các chất ma túy tồn tại và phát triển, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm .... làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Đ nói riêng và tỉnh Điện Biên nói Chung. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm nghiêm trọng, vì vậy hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

 [3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự phạm tội lần đầu. Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm p Khoản 1 Điều 46/BLHS năm 1999.1 194/BLHS năm 1999 có khung hình phạt từ 02 năm tù đến 07 năm tù, nhưng theo quy định tại Khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015 có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù. So với Bộ luật hình sự năm 1999 thì mức hình phạt quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 là có lợi cho bị cáo. Vì vậy mặc dù Bộ luật hình sự năm 2015 đến tháng 01/2018 mới có hiệu lực nhưng Hội đồng xét xử sẽ căn cứ Điểm h Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội khóa 14 về thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét áp dụng mức hình phạt cho phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Mặt khác xét hoàn cảnh của bị cáo, mẹ đẻ bị cáo bị ung thu tuyến giáp, vợ bị cáo không có việc làm ổn định một mình phải nuôi hai con còn quá nhỏ và mẹ của bị cáo, ngoài ra bị cáo còn có ông ngoại được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến Hạng nhất, có cụ ngoại là liệt sĩ (gia đình của bị cáo là gia đình có công với cách mạng) nên HĐXX sẽ xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo. Mặc dù vậy HĐXX thấy vẫn cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội đồng thời để bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy.

 [4]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại Khoản 5 Điều 194/BLHS nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập chỉ đủ ăn nên không có khả năng thi hành, do vậy HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

 [5]. Lê Quang C khai mua hêrôin của một người đàn ông nhưngC không biết tên, địa chỉ của người đó, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công anhuyện Đ không có cở sở để điều tra làm rõ vì vậy HĐXX không xem xét.

 [6]. Vật chứng của vụ án là 0,28 gam Heroin cần phải bị tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 76/BLTTHS.

 [7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định tại Khoản 1 Điều 99/BLTTHS và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm1999; Điểm c Khoản  1 Điều 249; Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm h Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội khóa 14.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Xử phạt bị cáo Lê Quang C 20 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là 07/6/2017.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điểm a Khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 0,28gam Heroin đã trích 0,14 gam gửi giám định, không hoàn mẫu vật.  (Toàn bộ vật chứng của vụ án đã được cơ quan Điều tra Công anhuyện Đ, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sựhuyện Đ, tỉnh Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/8/2017).

4. Về án phí: Căn cứ Khoản 1 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14. Bị cáo Lê Quang C phải chịu 200.000đ án phí HSST.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/9/2017).


67
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về