Bản án 207/2019/HNGĐ-ST ngày 30/08/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 207/2019/HNGĐ-ST NGÀY 30/08/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 30 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 752/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 268/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1981. (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 3, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

Tạm trú: Số 278Đ khu vực 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoài T1, sinh năm 1980. (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 3, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

Tạm trú: Số 278Đ khu vực 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 15 tháng 7 năm 2019 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Hoài T1 chung sống với nhau vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn là do cuộc sống vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, anh T1 không quan tâm, chăm sóc vợ con. Anh chị đã ly thân từ tháng 02 năm 2019 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Hoài T1.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh chị có một con chung tên Nguyễn Thị Thanh M, sinh ngày 09/10/2006. Khi ly hôn, chị đồng ý để anh T1 tiếp tục nuôi dưỡng con chung, chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Hoài T1 trình bày trong quá trình giải quyết vụ: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Nguyễn Thị T về thời gian chung sống; điều kiện kết hôn, thời gian mâu thuẫn và con chung. Cuộc sống vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn, do chị T có thái độ khác từ tháng 02 năm 2019 đến nay. Nay, chị T xin ly hôn anh không đồng ý vì anh vẫn còn tình cảm.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh chị có một con chung tên Nguyễn Thị Thanh M, sinh ngày 09/10/2006. Khi ly hôn, anh đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng con chung, anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Các đương sự đều thống nhất các chứng cứ của vụ án đã được giao nộp đầy đủ và được công khai đúng thủ tục nhưng kết quả hòa giải đoàn tụ không thành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hoài T1; anh T1 hiện đang tạm trú tại khu vực 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn có đơn xin vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Hoài T1 chung sống với nhau vào năm 2005 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang nên hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3]. Xét thấy, chị T trình bày trong quá trình chung sống, cuộc sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn không được gia đình hai bên và chính quyền địa phương giải quyết; tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên kiên quyết ly hôn với anh T1. Anh T1 trình bày vợ chồng không có mâu thuẫn nhưng chị T lại có thái độ khác với anh từ tháng 02 năm 2019, chứng tỏ cuộc sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, không thể giải quyết được. Tuy nhiên từ khi ly thân đến nay, anh T1 không tìm ra được biện pháp nào để vợ chồng hàn gắn, giải quyết mâu thuẫn, trong khi chị T xác định không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với anh T1 nên kiên quyết ly hôn. Đến nay, chị T và anh T1 vẫn chưa giải quyết được những mâu thuẫn phát sinh, anh T1 cũng không tìm ra được phương hướng đoàn tụ, cho thấy dù đã cố gắng nhưng anh chị không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Từ những phân tích trên, thấy rằng hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh T1 là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị T và anh T1 thống nhất có một con chung tên Nguyễn Thị Thanh M, sinh ngày 09/10/2006. Từ khi ly thân đến nay, anh T1 là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, vẫn đảm bảo sự phát triển bình thường của con chung. Trong trường hợp ly hôn, chị T và anh T1 thống nhất để anh T1 tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Do đó, để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển ổn định của con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao con chung cho anh T1 nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5]. Về cấp dưỡng: Anh T1 không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh T1 thống nhất trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 273, 483, Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, 56, 81, 82, 83, 84, 85, 86 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T đối với anh Nguyễn Hoài T1 về việc “Ly hôn”.

Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Hoài T1.

Về con chung: Anh Nguyễn Hoài T1 được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Thị Thanh M, sinh ngày 09/10/2006. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì anh T1 không có yêu cầu.

Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0003167 ngày 18/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An để thi hành.

Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự


31
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 207/2019/HNGĐ-ST ngày 30/08/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:207/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về