Bản án 20/2020/HNGĐ-ST ngày 25/08/2020 về kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 20/2020/HNGĐ-ST NGÀY 25/08/2020 VỀ KIỆN LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 25 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Yên, Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 88/2020/TLST - HNGĐ ngày 11/6/2020 về việc kiện “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/7/2020 và quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2020/QĐST-HNGĐ ngày 10/8/2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn chị Triệu Thị C - sinh năm 1992.

Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn anh Lý Văn C- Sinh năm 1986.

Địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Triệu Thị C trình bày: Chị và anh Lý Văn C kết hôn với nhau ngày 20/5/2014 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cam Cọn trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh C không tu chí làm ăn, thường xuyên uống rượu về nhà đánh đập vợ. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình đã khuyên giải nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện được. Từ năm 2015 do mâu thuẫn gia đình nên chị C đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở và sống ly thân, từ đó không ai quan tâm đến ai về tình cảm cũng như kinh tế. Đến nay, chị C xét thấy tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lý Văn C.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh chị một con chung:

Cháu Lý Thị N sinh ngày 21/3/2014. Hiện cháu đang ở với chị C. Khi ly hôn chị C có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu Nga đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản: Chị C xác định vợ chồng anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Lý Văn C trình bày: Về thời gian, địa điểm kết hôn như chị C trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh C phải đi làm ăn xa, khi về nhà chị C đã bỏ về nhà ngoại sinh sống, từ đó tình cảm vợ chồng xa cách. Từ năm 2015, vợ chồng anh chị sống ly thân, không ai quan tâm đến ai về tình cảm cũng như kinh tế. Đến nay chị C có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, tại phiên tòa anh C xác định cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nhưng do con cái còn nhỏ nên anh C có nguyện vọng được đoàn tụ gia đình.

Quá trình giải quyết vụ án anh C không đến Tòa án để tham gia phiên tòa kiểm tra, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, do vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên toà chị C vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Triệu Thị C và bị đơn anh Lý Văn C vẫn vẫn giữ nguyên quan điểm và yêu cầu của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn nộp đầy đủ các chứng cứ theo quy định. Tranh chấp của vụ án là tranh chấp hôn nhân gia đình, theo khoản 1 điều 28; khoản 1 điều 35, khoản 1 điều 39 – Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Triệu Thị C vắng mặt, có đơn xin vắng mặt. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Triệu Thị C.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy chị Triệu Thị C và anh Lý Văn C kết hôn ngày 20/5/2014 có đăng ký kết hôn tai UBND xa C, huyên Bao Yên trên cơ sơ tư nguyên. Do vậy hôn nhân giữa chị C và anh C là hợp pháp. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng anh chị sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh C không tu chí làm ăn, từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra đánh cãi chửi nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình bạn bè hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện được. Anh chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2015 đến nay không ai quan tâm đến ai về tình cảm cũng như kinh tế. Chị Triệu Thị C xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh Lý Văn C cũng xác định cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Như vậy cuộc sống vợ chồng giữa chị C và anh C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Triệu Thị C là phù hợp.

[3] Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có một con chung là cháu Lý Thị N sinh ngày 21/3/2014. Chị Triệu Thị C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu Lý Thị N đến khi cháu đủ 18 tuổi. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án chị Triệu Thị C đã cung cấp xác nhận mức thu nhập là khoảng 5 triệu đồng/tháng, anh Lý Văn C không có căn cứ chứng minh về mức thu nhập hàng tháng, hơn nữa cháu Lý Thị N là con gái còn nhỏ tuổi nên cần có sự quan tâm chăm sóc của người mẹ về mọi mặt, từ khi sống ly thân cháu vẫn ở với mẹ và học tập ổn định. Do vậy cần giao cháu Lý Thị N cho chị Triệu Thị C trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp. Tạm thời anh Lý Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Triệu Thị C phải chịu tiền án phí ly hôn theo khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147; Điểm a Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Triệu Thị C và anh Lý Văn C.

2. Về con chung: Giao cháu Lý Thị N sinh ngày 21/3/2014 cho chị Triệu Thị C trực tiếp trông nom nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Lý Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh C được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

3. Về án phí: Chị Triệu Thị C phải chịu 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001814 ngày 11/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Yên, chị C đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


16
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2020/HNGĐ-ST ngày 25/08/2020 về kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:20/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bảo Yên - Lào Cai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:25/08/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về