Bản án 20/2019/HSPT ngày 18/02/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 20/2019/HSPT NGÀY 18/02/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 18/02/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 264/2018/TLPT-HS ngày 21/12/2018 đối với bị cáo Nguyễn Văn V do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 181/2018/HSST ngày 21/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn V, sinh năm 1966; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn TĐ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 06/12; con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị S (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị T và 04 con; tiền án, tiền sự: không; bị bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/8/2018 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo:

1. Bà Nguyễn Thị Như Q - Trợ giúp viên pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Giang.

2. Bà Nguyễn Thị M - Trợ giúp viên pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Giang.

Ngoài ra vụ án còn có một số người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 55 phút ngày 10/8/2018 tại trước cửa số nhà 39, đường M,phường M, thành phố B, tổ công tác Đội cảnh sát giao thông Công an thành phốBắc Giang bắt quả tang Nguyễn Văn V, sinh năm 1966, trú quán: thôn TĐ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ:

- 01 gói nilon mầu xanh bên trong đựng 01 gói giấy mầu trắng, bên trong gói giấy đựng 01 túi nilon mầu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa và viền mầu đỏ, bên trong đựng chất cục bột mầu trắng nghi là ma túy Heroine thu trong quần lót của V đang mặc khi bị bắt.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 98B1-141.70.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Matell.

- Số tiền 800.000 đồng

Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng nghi ma tuý vào 01 phong bì thư và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang tại chỗ, sau đó bàn giao V cùng vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang giải quyết.

Kết luận giám định số 1048/KL-PC54 ngày 13/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận: Trong 01 phong bì thư niêm phong gửi giám định: Chất cục bột mầu trắng đựng trong 01 túi nilon mầu trắng trên một đầu có rãnh khóa bằng nhựa và viền mầu đỏ (được gói bọc bằng mảnh giấy trắng, ngoài cùng là mảnh nilon mầu xanh) chất ma túy Heroine, có khối lượng 1,236 gam.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn V khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 10/8/2018 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên V điện thoại cho người đàn ông tên H (là bạn quen biết ngoài xã hội) để mua ma túy về sử dụng, H đồng ý hẹn V đến khu vực gần chùa M, phường M, thành phố Bắc Giang để giao dịch. Sau đó V điều khiển xe mô tô BKS 98B1-141.70 từ nhà đến điểm hẹn. Khi đến nơi V thấy H đang đi bộ đến, V đưa 200.000 đồng cho H và H cầm tiền đưa lại cho V 01 gói ma túy. V cất gói ma túy vừa mua được vào trong quần lót rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi đi đến khu vực trước cửa số nhà 39, đường M, phường M, thành phố B thì bị tổ công tác Đội cảnh sát giao thông Công an thành phố Bắc Giang kiểm tra, bắt quả tang thu giữ trong quần lót của V 01 gói ma túy mà V vừa mua được để sử dụng.

Liên quan đến nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, V khai mua được của người đàn ông tên H. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định được một người tên Khổng Đình H, sinh năm 1983, trú tại phường N, thành phố B, hiện ở đường M, phường M, thành phố B. Quá trình điều tra, H không thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy V. Cơ quan điều tra đã cho V đối chất với H nhưng H vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của V thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên không có căn cứ để xử lý đối với H.

Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave BKS 98B1-141.70, Vụ khai nhận trước ngày bị bắt khoảng một tháng, V có cho anh L là người ở cùng thôn vay số tiền8.000.000 đồng và anh L gửi lại chiếc xe trên để làm tin và hẹn khi nào có tiền trả sẽ lấy xe về. Đến ngày 10/8/2018, anh L vẫn chưa lấy lại xe nên V đã sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy và bị lực lượng Công an thu giữ. Quá trình điều tra đã xác định chiếc xe mô tô Honda Wave BKS 98B1-141.70, đăng ký xe mang tên ông Vi Văn K, sinh năm 1969, trú tại thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ông K khai ông có cho con trai là anh Vi Văn H, sinh năm 1993 mượn chiếc xe trên để đi lại. Khoảng tháng 4 năm 2018 tại khu vực Công ty YLYAKVINA thuộc xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, anh H có cho Thân Văn T, sinh năm 1988, trú tại thôn TĐ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang mượn chiếc xe này nhưng sau đó không thấy T trả xe. Vụ việc liên quan đến chiếc xe mô tô bị thu giữ có dấu hiệu của tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên D. Ngày 17/9/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang đã tiến hành bàn giao chiếc xe mô tô trên cùng các tài liệu liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng để giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, số tiền 800.000 đồng được nhập kho vật chứng để xử lý.

- Tại Cơ quan điều tra - Công an thành phố Bắc Giang bị cáo Nguyễn Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 181/2018/HSST ngày 21/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/8/2018.

Ngoài ra bản án còn tuyên phần xử lý vật chứng, phần án phí, quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 27/11/2018, bị cáo Nguyễn Văn V kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt tù.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn V giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù với lý do án sơ thẩm xử phạt bị cáo là nặng, vi phạm lần đầu, bố đẻ có công với cách mạng, bị cáo bị ốm đau bệnh tật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đưa ra đề nghị xem xét vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lý do bị cáo sử dụng chất ma túy là do bị bệnh viêm tụy nên phải dùng chất ma túy để giảm đau, bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương, tài liệu có trong hồ sơ thể hiện anh ruột bị cáo là người có công với cách mạng, đề nghị áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V đã được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự là kháng cáo hợp pháp, được chấp nhận xem xét giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V:

Hồi 20 giờ 55 phút ngày 10/8/2018, tại trước cửa số nhà 39, đường M, phường M, thành phố B, Tổ công tác Đội cảnh sát giao thông Công an thành phố Bắc Giang kiểm tra bắt quả tang Nguyễn Văn V có hành vi tàng trữ trái phép 1,236 gam chất ma túy Heroine.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo có anh ruột là người có công với cách mạng cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo khai bố đẻ của bị cáo được tặng thưởng Huân, Huy chương nhưng không có tại liệu chứng cứ nào chứng minh nên không chấp nhận.

Mặc dù bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nhưng bị cáo tàng trữ số lượng ma túy là 1,236 gam Heroine, lớn hơn rất nhiều lần số lượng tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này, do vậy mức hình phạt 01 năm 10 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, mức hình phạt tù này không nặng nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên cần miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo, theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

[4] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;

[1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ: 10/8/2018.

[2] Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, miễn toàn bộ án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn V.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


39
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2019/HSPT ngày 18/02/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:20/2019/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bắc Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/02/2019
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về