Bản án 20/2019/HC-ST ngày 29/11/2019 về khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 20/2019/HC-ST NGÀY 29/11/2019 VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI

Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2019/TLST-HC ngày 16/10/2019 về việc “khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2019/QĐST-HC ngày 19 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Phan Thanh T, sinh năm 1975 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu

2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt)

Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Thanh H – Chức vụ: Chủ tịch.

Địa chỉ: Ấp H, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 10/10/2019; Biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa người khởi kiện ông Phan Thanh T trình bày nội dung như sau: Ngày 15/9/2014 Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu ban hành bản án số 119/2014/DSPT buộc ông T trả cho ông Phan Văn V số tiền vốn và lãi là 26.460.125 đồng. Ông T đồng ý với bản án trên tuy nhiên việc thi hành án giao đất cho ông Hồ Châu E ông không biết. Đối với số tiền phải thi hành án tại bản án số 119/2014/DSPT ngày 15/9/2014 ông có yêu cầu trả theo hàng tháng, theo từng vụ lúa, mỗi vụ là 5.000.000đ và trả đủ trong 02 vụ lúa nhưng thi hành án không đồng ý. Việc thi hành án tiến hành cưỡng chế kê biên bán đấu giá phần đất trên ông không đồng ý nên Chủ tịch Ủy ban nhân huyện P, tỉnh Bạc Liêu xử phạt vi phạm hành chính vì ông chiếm đất trên là không có căn cứ vì đất này là đất của ông. Ông thiếu tiền thì sẽ trả bằng tiền chứ không đồng ý giao đất, ông T cho rằng đất này là đất của ông nên khi tới vụ ông ra xạ lúa nhưng Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu lại ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là không đúng. Nay ông yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu hủy toàn bộ Quyết định số 16/QĐ-UBND ngày 23/8/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

Tại văn bản trình bày ý kiến số 1848/UBND ngày 08/11/2019 người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu trình bày nội dung như sau: Vụ chiếm đất nêu trên xuất phát từ việc tranh chấp dân sự được Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền xét xử và bản án đã có hiệu lực. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên được thi hành án, Chi cục thi hành án dân sự huyện P tiến hành cưỡng chế kê biên và hợp đồng bán đấu giá với Trung tâm bán đấu giá kết quả trúng giá và được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 949697 ngày 21/12/2017 tại thửa đất số 2093, tờ bản đồ số 3, diện tích 994,9m2 nhưng ông Phan Thanh T không đồng ý giao đất và chiếm đất để sử dụng.

Ủy ban nhân dân xã V tiến hành lập hồ sơ để xử lý hành vi chiếm đất trồng lúa, quy định mức xử phạt tại Khoản 2, Điều 10 và buộc khắc phục hậu quả tại điểm b, khoản 5, Điều 10 Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Do đó, chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P ban hành Quyết định số 16/QĐ-XPVPHC ngày 23/8/2019 xử phạt hành vi chiếm đất đối với ông Phan Thanh T là đúng quy định pháp luật. Từ những căn cứ nêu trên, Chủ tịch Ủy ban nhân huyện P không đồng ý với yêu cầu hủy Quyết định trên, yêu cầu Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật và chứng cứ liên quan để giải quyết vụ kiện Tại phiên tòa hôm nay, người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

- Về Tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay, Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính; Hội đồng xét xử tuân thủ theo quy định của pháp luật. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Do ông Phan Thanh T không thực hiện nghĩa vụ dân sự nên Chi cục thi hành án dân sự huyện P đã kê biên phát mãi tài sản để bán đấu giá thi hành án đối với nghĩa vụ của ông T. Thủ tục bán đấu giá quyền sử dụng đất và việc cưỡng chế giao đất của ông T cho người trúng đấu giá là ông Hồ Châu E đã hoàn tất. Hành vi của ông Phan Thanh T ngang nhiên vào xạ lúa trên đất của ông Hồ Châu E không được ông Em đồng ý là vi phạm pháp luật. Do đó, đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh T yêu cầu hủy toàn bộ Quyết định số 16/QĐ-UBND ngày 23/8/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, các quy định của pháp luật Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tại phiên tòa, người khởi kiện ông Phan Thanh T có mặt; Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, việc Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án này vắng mặt người bị kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

[1.2] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Ông Phan Thanh T yêu cầu Tòa án hủy toàn bộ Quyết định số 16/QĐ-XPVPHC ngày 23/8/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 3, khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính thì quyết định hành chính nêu trên mà ông T khởi kiện là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

[1.3] Về thời hiệu khởi kiện: Quyết định số16/QĐ-XPVPHC được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu ban hành ngày 23/8/2019 và triển khai Quyết định trên cho ông T vào ngày 26/8/2019. Đến ngày 03/10/2019 ông T có đơn khởi kiện yêu cầu hủy quyết định trên tại Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện của ông T vẫn còn trong hạn luật định.

[2] Xét tính hợp pháp của Quyết định số 16/QĐ-XPVPHC ngày 23/8/2019 của Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Về thẩm quyền ban hành quyết định: Căn cứ vào biên bản xử phạt vi phạm hành chính ngày 19/8/2019 thể hiện hành vi vi phạm hành chính của ông Phan Thanh T là hành vi chiếm đất trồng lúa quy định tại khoản 2 Điều 10 và biện pháp khắc phục hậu quả là buộc trả lại đất trồng lúa đã lấn chiếm quy định tại điểm b, Khoản 5, Điều 10 Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 38 , khoản 3, Điều 52 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 2 Điều 31 Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu ban hành Quyết định xử phạt số 16/QĐ-XPVPHC ngày 23/8/2019 là đúng thẩm quyền.

[2.2] Về thời hiệu, thời hạn ban hành quyết định:

Theo hồ sơ vụ án thì ngày 17/8/2019 Ủy ban nhân dân xã V nhận được tin báo của ông Hồ Châu E về việc ông Phan Thanh T chiếm đất của ông để xạ lúa và trực tiếp xuống hiện trường thì phát hiện phần đất của ông Hồ Châu E đã bị ông T xạ lúa. Ngày 19/8/2019 Ủy ban nhân dân xã V lập biên bản về việc vi phạm hành chính đối với ông Phan Thanh T. Đến ngày 26/8/2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu ban hành Quyết định số 16/QĐ-XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông Phan Thanh T là vẫn còn thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Theo quy định tại khoản 1, Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính thì: “Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính”. Ngày 19/8/2019 Ủy ban nhân dân xã V lập biên bản về việc vi phạm hành chính đối với ông Phan Thanh T đến ngày 23/8/2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu ban hành Quyết định số 16/QĐ-XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông Phan Thanh T là còn trong thời hạn luật định.

[2.3] Về trình tự, thủ tục ban hành Quyết định:

Theo nội dung Bản án dân sự phúc thẩm số 119/2014/DSPT ngày 15/9/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã giải quyết buộc ông Phan Thanh T có trách nhiệm giao trả cho ông Phan Văn V tổng số tiền 26.460.125 đồng , trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Tuy nhiên, ông Phan Thanh T có điều kiện thi hành án nhưng đã không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thi hành án nên Chi cục thi hành án dân sự huyện P đã ra Quyết định cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất là một phần đất thuộc thửa đất số 1583, tờ bản đồ số 03, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 062661 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp cho ông Phan Thanh T và bà Phạm Thị T ngày 31/7/2009 tọa lạc tại ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Sau khi thực hiện trình tự, thủ tục kê biên bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất trồng lúa diện tích 994,9m2 thuộc thửa đất số 1583, tờ bản đồ số 03, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 062661 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp cho ông Phan Thanh T và bà Phạm Thị T ngày 31/7/2009 tọa lạc tại ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu) theo quy định thì đến ngày 30/3/2017 Chi cục thi hành án dân sự huyện P đã ra Quyết định số 01/QĐ-CCTHADS về việc giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá là ông Hồ Châu E. Ngày 21/12/2017 Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL949697 diện tích 994,9m2 , thửa số 1583, tờ bản đồ số 03 tại ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu cho ông Hồ Châu E.

Ngày 17/8/2019 Công an xã V nhận được tin báo của ông Hồ Châu E về việc phần đất diện tích 994,9m2 , thuộc thửa đất số 1583, tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu của ông Hồ Châu E mua đấu giá tại Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bạc Liêu hiện ông Phan Thanh T chiếm sử dụng để xạ lúa, nhận được tin báo Công an xã V trực tiếp xuống hiện trường xác minh vụ việc thì thấy phần đất trên đã có người xạ lúa và tiến hành lập biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm. Cùng ngày, Công an xã V tiến hành xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính đối với ông Hồ Châu E, ông Lê Hoàng Tám, bà Nguyễn Thị C, ông Phan Thanh Kiển, ông Phan Thanh T. Vào lúc 15 giờ ngày 19/8/2019, Ủy ban nhân dân xã V lập biên bản vi phạm hành chính số 02/BB- VPHC đối với ông Phan Thanh T về hành vi chiếm đất của ông Hồ Châu E để xạ lúa quy định tại khoản 2, Điều 10 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014. Tại biên bản có chữ ký xác nhận của đại diện chính quyền là phó trưởng công an xã V là ông Trần Quang H, trưởng ấp 2A ông Phạm Văn N; người bị thiệt hại là ông Hồ Châu E; người chứng kiến là ông Lưu Văn K, ông Nguyễn Văn T và người lập biên bản là cán bộ địa chính xã ông Lê Thanh H. Do người vi phạm là ông Phan Thanh T không ký tên vào biên bản nên ông Trần Thanh Hậu và ông Phạm Văn N tiến hành lập biên bản về việc ông T không ký tên vào biên bản vi phạm và không nhận biên bản. Cũng trong ngày 29/3/2019, Công an xã V tiến hành xác minh tình tiết vụ việc vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Văn T, ông Lưu Văn K và lập lý lịch cá nhân của ông Phan Thanh T. Ngày 23/8/2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu ban hành Quyết định số 16/QĐ- XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông Phan Thanh T và tống đạt hợp lệ Quyết định trên cho ông T vào ngày 26/8/2019. Do đó việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu ban hành Quyết định số 16/QĐ-XPVPHC ngày 23/8/2019 là đúng trình tự thủ tục quy định tại Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 67, Điều 68 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013; Nghị định 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017.

[2.4] Về hình thức ban hành Quyết định:

Quyết định số số 16/QĐ-XPVPHC ngày 23/8/2019 đã áp dụng Điều 68 Luật xử lý vi phạm hành chính và soạn thảo theo biểu mẫu ban hành kèm theo Nghị định 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ quy định về một số biểu mẫu trong xử lý vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

[2.5] Về căn cứ ban hành Quyết định:

[2.5.1] Phần đất diện tích 994,9m2 , thuộc thửa đất số 1583, tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu đã được cưỡng chế kê biên để thi hành bản án dân sự phúc thẩm số 119/2014/DSPT ngày 15/9/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, ngày 30/3/2017 Chi cục thi hành án dân sự huyện P đã ra Quyết định số 01/QĐ-CCTHADS về việc giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá là ông Hồ Châu E, ngày 21/12/2017 Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất trên cho ông Hồ Châu E. Tại biên bản tiếp nhận nguồn tin của ông Hồ Châu E ngày 17/8/2019 và các biên bản xác minh tình tiết vụ việc vi phạm hành chính đối với ông Hồ Châu E, ông Lê Hoàng Tám, bà Nguyễn Thị C, ông Phan Thanh Kiển cùng ngày 19/8/2019 đều xác định phần đất diện tích 994,9m2 , thuộc thửa đất số 1583, tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu hiện nay ông Phan Thanh T đang chiếm phần đất trên để xạ lúa, xịt sâu, giải phân...Ngoài ra khi ông Em đến cặm ranh và đắp bờ để xạ lúa thì ông T nhổ cột mốc ranh và ban bờ bỏ.

Do đó, có căn cứ xác định ông Phan Thanh T đã có hành vi chiếm đất của ông Hồ Châu E nên ngày 19/8/2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V lập Biên bản vi phạm hành chính đối với ông T là có cơ sở.

[2.5.2] Phần đất diện tích 994,9m2 , thuộc thửa đất số 1583, tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại ấp M, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu đã được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hồ Châu E ngày 21/12/2017 với mục đích sử dụng đất là đất chuyên trồng lúa nước. Do vậy ngày 23/8/2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu đã căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính ngày 19/8/2019 để ban hành Quyết định số 16/QĐ- XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông Phan Thanh T về hành vi chiếm đất trồng lúa theo khoản 2 Điều 10 Nghị định 102/2014/NĐ-CP với hình thức xử phạt chính là phạt tiền 4.000.000 đồng, biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc trả lại diện tích đất đã lấn chiếm quy định tại điểm b, khoản 5, Điều 10 Nghị định 102/2014/NĐ-CP là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

[2.5.3] Tại biên bản lấy lời khai tại Tòa án, ông T cho rằng ông không biết việc phần đất trên đã bán cho ông Em nên ông vẫn tiếp tục sử dụng là không có căn cứ, bởi lẽ tại biên bản lấy lời khai ngày 19/11/2019 ông T xác định có nhận được thông báo kết quả cưỡng chế thi hành án số 142/TB-CCTHA ngày 11/4/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện P; tại biên bản xác minh vụ việc ngày 19/8/2019 ông T xác định “...thời gian cách đây khoảng 02 năm thi hành án có vào đo đạc đất giao cho ông Hồ Châu E phần đất nêu trên có đến gia đình tôi thông báo nhưng tôi không thống nhất...”. Ngoài ra, tại các biên bản triển khai quyết định cưỡng chế ngày 30/3/2017, biên bản cưỡng chế giao tài sản ngày 30/3/2017, biên bản tuyên bố kết thúc việc cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất ngày 30/3/2017 và biên bản động viên, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án ngày 30/3/2017 đều thể hiện đoàn cưỡng chế có đến nhà ông T thông qua các biên bản trên cho ông T nghe, ông T đã nghe nhưng không đồng ý ký tên.

[3] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận đơn khởi kiện của ông Phan Thanh T. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của ông T về việc hủy Quyết định số 16/QĐ- XPVPHC ngày 23/8/2019 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề xuất của Viện kiểm sát.

[4] Án phí hành chính sơ thẩm: Ông Phan Thanh T phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 30, Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính;

- Căn cứ Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;

- Căn cứ Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014

- Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013;

- Nghị định 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017;

- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thanh T về việc yêu cầu hủy Quyết định số 16/QĐ-XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai ngày 23/8/2019 của Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

2/ Án phí sơ thẩm hành chính: ông Phan Thanh T phải chịu 300.000đ. Ông Phan Thanh T đã dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010218 ngày 15/10/2019 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


30
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về