Bản án 20/2019/DS-PT ngày 22/04/2019 về việc tranh chấp bồi thường thiệt hại sức khỏe

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 20/2019/DS-PT NGÀY 22/04/2019 VỀ VIỆC TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI SỨC KHỎE

Ngày 22 tháng 4 năm 2019, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 72/2018/DSPT ngày 14/12/2018 về bồi thường thiệt hại sức khỏe. Do bản án dân sự sơ thẩm số 14/2018/DSST ngày 24/10/2018 của Tòa án nhân huyện Đại Từ có kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2019/QĐ - PT ngày 03/01/2019, giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Anh H, sinh năm 1978;

+ Bị đơn: Ông Th, sinh năm 1958;

Đều có HKTT và chỗ ở: Xóm TT 2, xã QC, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên.

(Anh H, ông Th có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Khoảng 20 giờ, ngày 13/12/2017, tại gia đình ông Th xóm TT 2, xã QC, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên xảy ra xô xát giữa ông Th và anh H. Ông Th có hành vi dùng phích nước gây thương tích anh H, hậu quả làm anh H phải đi cấp cứu tại bệnh viện và bị tổn hại 03% sức khỏe.

Sau khi bị thương, anh H được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện C TN là 15 ngày.

Tại biên bản sự việc ngày 13/12/2017 do công an xã QC lập xác định vào hồi 20 giờ 30 phút, tại gia đình ông Th xóm TT 2, xã QC, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân công an xã QC đến nhà ôngTh, tại đây thì thấy anh H bị thương ở trán phải vết rách dài khoảng 2cm, phần bị thương có chảy máu.

Tại quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 62/KKT, ngày 22/6/2018 của Cơ quan CSĐT – Công an huyện ĐT đã xác định: Hành vi của Thkhông đủ yếu tố cấu thành tội phạm:“ Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” quy định tại Điều 105 BLHS năm 1999. Anh H và ông Th cũng không có ý kiến khiếu nại về Quyết định trên.

Tại các tài liệu có trong hồ sơ vụ án xác định: Tối ngày 13/12/2017 anh H cùng một số người khác đến gia đình ông Th. Tại nhà ông Th, anh H nói to, quát tháo, làm các cháu nhỏ nhà ông Th hoảng sợ và khóc. Ông Th nhắc nhở nhưng anh H không nghe mà còn tiếp tục nói to làm ông Th bức xúc nên ông Th đã dùng chiếc phích nước đánh vào đầu anh H. Hậu quả làm anh H bị thương tích 03%.

Sau khi hòa giải không thành tòa sơ thẩm đưa vụ án ra xét xử, tại bản án dân sự sơ thẩm số 14/2018/DSST, ngày 24/10/2018 của Tòa án nhân huyện Đại Từ đã quyết định:

Áp dụng các điều 26, 147, 227 BLTTDS; Các Điều 584, 585, 586, 590, 357 BLDS, Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP, ngày 08/7/2006 của HĐTPTANDTC; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh H. Buộc ông Th có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh H số tiền là 10.913.000 đồng (mười triệu chín trăm mười ba nghìn đồng).

Án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 1/11/2018, bị đơn ông Th kháng cáo không nhất trí án sơ thẩm, cụ thể không nhất trí mức bồi thường 10.913.000đ và yêu cầu anh H phải bồi thường danh dự cho gia đình ông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cưu cac tai liêu , chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thâm tra tai phiên toa, căn cư vao kêt qua tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện VKS phát biểu ý kiến, Hôi đông xet xư nhân đinh:

[1.] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Th kháng cáo trong hạn luật đinh, đã nộp dự phí kháng cáo, là hợp lệ được xem xet theo trinh tự phúc thẩm.

[2.]. Về nội dung: Xét nội dung kháng cáo của bị đơn, theo tài liệu trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Chiều tối ngày 13/12/2017 có việc anh H cùng anh Th1 đến gia đình nhà ông Th, mục đích là trả tiền công cho anh S là con trai của ông Th, nhưng lúc này anh S không có mặt ở nhà. Do anh H nói to làm các cháu của ông Th giật mình khóc, ông Th có nhắc nhở anh H và hai bên lời qua tiếng lại dẫn đến việc ông Th dùng phích đựng nước đập vào đầu anhH gây thương tích cho anh H. Anh H phải vào điều trị tại bệnh viện từ tối ngày 13/12/2017 đến ngày 28/12/2017 ra viện.

Tại kết luận giám định của cơ quan chuyên môn xác định tỷ lệ thương tích của anh H là 03%. Ngày 22/6/2018 Công an huyện ĐT ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự về việc Cố ý gây thương tích giữa ông Th và anh H và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Th, ông Th không có khiếu nại đối với các quyết định của Công an huyện ĐT. Tòa sơ thẩm xác định thiệt hại về sức khỏe của anh H do ông Th gây ra là có căn cứ.

Về việc bồi thường thiệt hại, anh H yêu cầu ông Th phải bồi thường thiệt hại với số tiền là 24.600.000đ cụ thể bao gồm: Tiền viện phí là 6.700.000đ; Tiền trông nom trong 15 ngày làm việc: 7.500.000đ; Tiền xe đi cấp cứu: 400.000đ; Bồi thường thiệt hại về tinh thần, sức khỏe: 10.000.000đ. Trên cơ sở các tài liệu chứng cứ là chi phí cho việc khám chữa bệnh và chi phí thực tế của anh H, Tòa sơ thẩm xác định thiệt hại về sức khỏe của anh H là 16.369.000 đồng, bao gồm: Tiền xe đi cấp cứu là: 400.000 đồng; Tiền viện phí tiền thuốc: 4.969.600 đồng; Tiền thu nhập bị mất là:15 ngày x 150.000 đồng/ngày = 2.250.000 đồng; Tiền công cho người chăm sóc trong thời gian điều trị: 15 ngày x 150.000 đồng/ngày x 1 người = 2.250.000 đồng. Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm, căn cứ vào thương tích của anh H xét thấy mức bồi thường là 5 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định, là: 5 x 1.300.000 đồng/tháng = 6.500.000đ, tổng thiệt hại là 16.369.000 đồng là có căn cứ.

Xét về lỗi của các bên, tòa sơ thẩm xác định lỗi của anh H là 1/3, ông Th 2/3 là chưa phù hợp, mà phải xác định anh H có 1/2 lỗi vì khi đến nhà ông Th, anh H và nói to và quát tháo gây tâm lý bức xức cho ông Th. Mỗi bên chịu 1/2 thiệt hại, cụ thể 16.369.000 : 2 = 8.185.500đ, là số tiền ông Th phải bồi thường cho anh H.

Tại phiên tòa, đại diện VKS đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của ông Th, sửa án sơ thẩm theo hướng xác định lỗi của hai bên ngang nhau.

[3.] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Từ sự phân tích trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dung khoan 2 Điêu 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Th, sửa án bản án dân sự sơ thẩm số 14/2018/DSST, ngày 24/10/2018 của Tòa án nhân huyện Đại Từ Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 590, 357 Bộ luật dân sự, Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP, ngày 08/7/2006 của HĐTPTANDTC; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh H. Buộc ông Th có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh H số tiền là 8.185.500đ (tám triệu, một trăm tám mươi lăm nghìn. năm trăm đồng).

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS.

- Về án phí: Ông Th phải chịu 409.000 đồng (bốn trăm linh chín nghìn đồng) án phí DSST sung công quỹ Nhà nước.

Ông Th không phải chịu án phí phúc thẩm được hoàn lại 300.000đ, theo biên lai thu số 0012477 ngày 1/11/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, thì người được Thi hành án Dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành.


51
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về