Bản án 20/2018/HSPT ngày 21/03/2018 về tội vi phạm các quy định khai thác và bảo vệ rừng

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 20/2018/HSPT NGÀY 21/03/2018 VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH KHAI THÁC VÀ BẢO VỀ RỪNG

Ngày 21 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 23/2018/TLPT-HS ngày 05-02-2018 đối với bị cáo Phan Tấn T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 10/2017/HSST ngày 26-12-2017 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Phan Tấn T (Tên gọi khác Th), sinh ngày 26-7-1982 tại tỉnh Lâm Đồng; Nơi ĐKNKTT: Số 75 N, phường b, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng; Nơi cư trú: Số 16 X, phường b, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Tấn Tr (Đã chết); Con bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1946; Vợ Phạm Thị Ngọc T, sinh năm 1979; bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2012;

Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 19 tháng 5 năm 2017, bị cáo đã bị Đội kiểm lâm cơ động và Phòng cháy chữa cháy số 1 thuộc Chi cục kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng xử phạt hành chính tại Quyết định số 000032/QĐ-XPVPHC, với số tiền 15.000.000đ (mười năm triệu đồng); Bị cáo chưa thi hành quyết định này;

Bị cáo hiện đang tại ngoại tại: Số 16 X, phường 7b, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 07 tháng 9 năm 2017, Phan Tấn T - chủ sở hữu xe ô tô BKS 62B-00986 cùng với người tên Đ (là người được T thuê lái xe) chở vật liệu xây dựng cho ông Nguyễn Đăng D từ khu vực số 6, phường b, thành phố ĐL vào khu vực Suối cạn thuộc xã L, huyện LD.

Sau khi đổ vật liệu xong thì quay về, Đối điều khiển xe, còn T ngồi bên cạnh, khi chạy trên tuyến đường 722 hướng từ xã Đ về thành phố ĐL, đi được khoảng 200 m thì có một người đàn ông vẫy xe ô tô của T lại, T xuống xe thì người này tự giới thiệu tên là L và nhờ T chở gỗ ra khu vực số 6 thuộc phường b, thành phố ĐL. Lúc đầu T không đồng ý chở nhưng ông L nói sẽ trả cho T 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) nên T đồng ý. L điều khiển xe máy đi trước, Đ và T điều khiển xe ô tô chạy phía sau, khi đi được khoảng 200m, đến bãi đất trống gần đường là nơi để gỗ; cả ba người cùng bốc 5 phách gỗ Dổi lên xe ô tô.

L nói với T là L chạy xe máy đi trước và đón xe ô tô của T ở ngoài số 6. Đ điều khiển xe đi được khoảng 200m bị lực lượng kiểm lâm phát hiện chặn xe lại kiểm tra, T xuống xe trình bày với cơ quan chức năng, còn Đ lợi dụng sơ hở nên đã chạy trốn; cơ quan chức năng lập biên bản, mời T về trụ sở Hạt kiểm lâm huyện Lạc Dương làm việc.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận hành vi vận chuyển gỗ trái phép, song đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và cho bị cáo nhận lại tài sản là phương tiện đã vận chuyển gỗ.

Các anh Nguyễn Tư T, Phạm Công N – là cán bộ Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đạ Nhim xác định: Trong khi làm nhiệm vụ thì phát hiện chiếc xe ô tô BKS 62B-00986 có dấu hiệu khả nghi nên các anh đã yêu cầu dừng xe và kiểm tra thì phát hiện xe chở gỗ không có giấy tờ nên đã báo cáo Hạt kiểm lâm huyện Lạc Dương đến lập biên bản; còn tài xế, khi xuống xe thì đã bỏ chạy.

Tại bản kết luận số 08/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 09 tháng 11 năm 2017 “V/v xác định giá trị thiệt hại về lâm sản” của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Lạc Dương thì số lâm sản mà T vận chuyển trái phép có khối lượng là 0,610m3. Trị giá được tính bằng tiền là 5.289.964đ (năm triệu hai trăm tám mươi chín nghìn chín trăm sáu mươi bốn đồng).

Tại Bản Cáo trạng số 14/VKS - LD ngày 30/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương đã truy tố bị cáo Phan Tấn T về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” theo điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự.

Bản án số 10/2017/HSST ngày 26-12-2017 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương tuyên bố bị cáo Phan Tấn T phạm tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Tấn T (Thành) 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.

Bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 03-01-2018 bị cáo Phan Tấn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin chuyển hình phạt tù sang hình phạt khác.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bị cáo Phan Tấn T thừa nhận là chủ sở hữu xe ô tô BKS 62B -00986, ngày 07/9/2017, sau khi được người tên L thuê chở gỗ, bị cáo đã không yêu cầu người thuê xuất trình giấy tờ hợp pháp nhưng bị cáo vẫn đồng ý chở. Do đó, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi này. Khối lượng gỗ mà T vận chuyển trái phép là 0,610m3, có giá trị là 5.289.964 đồng.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tuy khối lượng gỗ bị cáo vận chuyển chưa vượt quá mức xử phạt vi phạm hành chính tối đa theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ, nhưng ngày 19-5-2017, bị cáo đã bị Đội kiểm lâm cơ động và Phòng cháy chữa cháy số 1 thuộc Chi cục kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng xử phạt hành chính tại  Quyết  định số 000032/QĐ-XPVPHC, với số  tiền 15.000.000đ (mười năm triệu đồng), bị cáo chưa thi hành quyết định này. Do đó, đủ cơ sở kết luận bị cáo Phan Tấn T phạm tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” theo điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, chuyển hình phạt tù sang hình phạt khác:

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng, bị cáo nhận thức được việc vận chuyển lâm sản trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Mặt khác, trước đó bị cáo bị xử phạt hành chính về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép nhưng chưa thi hành, bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện. Hành vi của bị cáo thể hiện thái độ coi thường pháp luật của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự quản lý và bảo vệ rừng của Nhà nước đồng thời cũng tiếp tay cho hành vi khai thác, chế biến lâm sản trái phép, một trong những nguyên nhân gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái hiện nay. Do đó, cần xử lý nghiêm minh nhằm răn đe phòng ngừa chung.

Cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt bị cáo mức án 03 (Ba) tháng tù là phù hợp.Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ mới nên không có cơ sở xem xét.

[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Tấn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Phan Tấn T phạm tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Tấn T (Th) 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.

Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phan Tấn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


174
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về