Bản án 20/2017/HSST ngày 20/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG LĨNH - HÀ TĨNH

BẢN ÁN 20/2017/HSST NGÀY 20/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 20 tháng 9 năm 2017 mở phiên tòa hình sự công khai tại hội trường xử án Tòa án nhân dân Thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh để xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2017/HSST ngày 21/8/2017 đối với các bị cáo:

1. Phan Đình H - Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 06 tháng 6 năm 1996 tại xã Đ, Huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chổ ở hiện nay: Thôn T, xã Đ, Huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Phan Văn P, sinh năm: 1969; Nghề nghiệp: Làm ruộng Con bà: Đậu Thị B, sinh năm: 1975; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Đều trú tại thôn T, xã Đ, Huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Anh, chị, em ruột: có 2 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

2. Phan Tuấn Đ - Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 24 tháng 10 năm 1991 tại xã Đ, Huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chổ ở hiện nay: thôn T, xã Đ, Huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12

Con ông: Phan Văn C, sinh năm: 1968; Nghề nghiệp: Cán bộ UBND xã; Con bà: Phạm Thị Hồng M, sinh năm:1969; Nghề nghiệp: Giáo viên; Đều trú tại thôn T, xã Đ, Huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh;

Anh,chị, em ruột: có 2 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Các bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/6/2017 đến ngày 20/6/2017 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh. Nay có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Phan Thanh S, sinh năm 1957; Trú tại: Tổ dân phố 6, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt)

Người làm chứng:

- Ông Trần Văn H, sinh năm 1961; Trú tại: Tổ dân phố 10, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt)

NHẬN THẤY

Bị cáo Phan Đình H và Phan Tuấn Đ bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 17/6/2017, Phan Đình H gọi điện cho Phan Tuấn Đ hẹn gặp ở C, thuộc địa bàn xã Đ, Huyện Đ, tỉnh H để bàn cùng đi mua ma túy về sử dụng. Khi gặp, do H không có tiền và Đ chỉ có 500.000 đồng nên H nói với Đ: “Được 500.000 đồng không giải quyết được vấn đề gì cả”. Đ nói lại “để mai đi làm kiếm thêm tiền cái đồ”, rồi sau đó cả hai đi về nhà của mình. Đến khoảng 16 giờ ngày 18/6/2017, Phan Tuấn Đ gọi điện thoại cho Phan Đình H nói đã có số tiền 1.000.000 đồng, H nghe vậy thì hẹn gặp Đ tại Cầu N. Khi gặp Phan Đình H nói với Phan Tuấn Đ: “Đi lấy hàng về chơi”, Đ đồng ý và điều khiển xe ô tô Taxi biển kiểm soát 38A - 049.98 của Công ty cổ phần vận tải Hà Tĩnh, được giao cho Đ quản lý và lái xe theo hợp đồng, chở H đi đến Thị trấn Ng, Huyện C, tỉnh H để mua ma túy. Khi đến khu vực ngã ba thị trấn N, Phan Đình H và Phan Tuấn Đ xuống ngồi uống nước mía tại quán ven đường, khi uống xong Phan Tuấn Đ đưa tiền ra trả đồng thời đưa cho Phan Đình H 1.000.000 đồng (gồm hai tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng) để H đi mua ma túy. Phan Đình H cầm tiền và lấy máy điện thoại của mình gọi điện cho người bán ma túy tên L để hỏi mua ma túy nhưng người này nói “không có” nên H cất giữ số tiền 1.000.000 đồng, sau đó Phan Tuấn Đ chở Phan Đình H đi về nhà tại xã Đ, Huyện Đ. Đến 17 giờ 30 phút ngày 18/6/2017, Phan Đình H tiếp tục gọi cho người đàn ông tên L để hỏi: “Đã có ma túy chưa” thì L trả lời: “Có rồi”. Khi liên lạc xong với người đàn ông tên L thì H có gọi điện báo cho Đ nhưng Đ không nghe máy. Đến khoảng 19 giờ ngày 18/6/2017, Phan Tuấn Đ thấy cuộc gọi nhỡ của Phan Đình H thì Đ gọi lại cho H để hỏi xem đã có ma túy để mua chưa. Lúc này H đang ăn cơm với gia đình, sợ bị phát hiện nên nhắn tin lại: “Đang ăn cơm”. Đến 19 giờ 45 phút cùng ngày Phan Tuấn Đ tiếp tục gọi điện cho Phan Đình H thì H hẹn gặp Đ ở mương nước gần nhà để Đ chở H đi mua ma túy. Đến khoảng 20 giờ ngày 18/6/2017, Phan Tuấn Đ điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 38A - 049.98 đến đón Phan Đình H đi xuống thị xã H. Khi đến thị xã H, H gọi điện cho L và L hẹn giao dịch ma túy tại tầng số 5 của khách sạn Việt Thái, thuộc tổ dân phố 10, phường B, thị xã H. Khi đến trước khách sạn Việt Thái thì Đ dừng xe ôtô chờ bên ngoài, Phan Đình H xuống xe một mình đi bộ lên khu vực cầu thang tầng 5 của khách sạn để gặp người đàn ông tên L. Khi gặp H đưa số tiền 1.000.000 đồng cho L, L cầm tiền và nói với H đi xuống tầng 4 lấy ma túy được cất giấu trong một vỏ bao thuốc lá WHITE HORSE để ở bậc cầu thang. Phan Đình H xuống cầu thang tầng 4 thấy có một vỏ bao thuốc lá để ở đó liền lấy mở ra thấy bên trong có một gói ni lông màu trắng đựng ma túy tổng hợp dạng “đá” nên H lấy gói ma túy từ trong bao thuốc lá ra cất giấu vào trong quần lót của mình rồi cầm bao thuốc trên tay đi xuống nơi Đ đang dừng xe chờ. Khi Phan Đình H đi đến vị trí chiếc xe ô tô biển kiểm soát 38A – 049.98 và chuẩn bị lên xe thì bị lực lượng Công an thị xã Hồng Lĩnh kiểm tra, phát hiện trong quần lót của H đang mặc trên người có một gói ni lông màu trắng bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể nghi là ma túy, Phan Đình H và Phan Tuấn Đ đều thừa nhận đó là chất ma túy tổng hợp dạng “đá” do H và Đ cùng mua về sử dụng. Công an thị xã Hồng Lĩnh tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, lập biên bản thu giữ và niêm phong số vật chứng nói trên.

Tại bản giám định số 80/KLGĐ ngày 19/6/2017 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 (một) túi ni lông do Công an thị xã Hồng Lĩnh thu giữ trên người Phan Đình H gửi giám định có trọng lượng 1,2696gam, có Methamphetamine. Ethamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT67, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Vật chứng gồm:

- 1,2696 gam Methamphetamine, sau khi lấy mẫu giám định 0,715 gam còn 1,1981 gam Methamphetamine.

- 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu WHITE HORSE là dụng cụ các đối tượng dùng để cất dấu ma túy.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, ví màu đen, có số IMEI: 354580056073219, đã qua sử dụng của Phan Đình H.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA Lumia 925, vỏ màu đen, số IMEI: 356717054884977, đã qua sử dụng của Phan Tuấn Đ.

- 01 (một) điện thoại di động mặt sau có dòng chữ VERTU, vỏ bằng kim loại màu đỏ, số IMEI: 3538008197878354, đã qua sử dụng của Phan Tuấn Đ không dùng vào việc phạm tội.

Tất cả các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự Thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Quá trình Đ sử dụng xe ô tô biển kiểm soát 38A - 049.98 màu trắng, bên ngoài có chữ Taxi Hà Tĩnh, xe đã qua sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội Công ty cổ phần vận tải Hà Tĩnh không biết. C ơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hồng Lĩnh đãđiều tra xác định chiếc xe này thuộc quyền sỡ hữu của Công ty cổ phần vận tải ô tô Hà Tĩnh do ông Phan Thanh S làm giám đốc mua về để kinh doanh vận tải, Phan Tuấn Đ là lái xe theo hợp đồng nên đã trả lại cho Công ty cổ phần vận tải Hà Tĩnh chiếc xe ô tô nói trên.

Bản cáo trạng số 20/CTr-KSĐT ngày 21/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Hồng Lĩnh đã quyết định truy tố các bị cáo Phan Đình H và Phan Tuấn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm b khoản 1 Điều 2 nghị quyết 41/2017/QH14; Khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý như sau: Tuyên bố bị cáo Phan Đình H và Phan Tuấn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p, q khoản 1 khoản 2 Điều 4. 6; điểm b khoản 1 Điều 2 nghị quyết 41/2017/QH14; Khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 xử bị cáo Phan Đình H từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử bị cáo Phan Tuấn Đ từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2017.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41BLHS, điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy (1,2696 gam sau khi lấy mẫu giám định 0,715 gam còn 1,1981 gam Methamphetamine); 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu WHITE HORSE là dụng cụ các đối tượng dùng để cất dấu ma túy.

Tịch thu hóa giá sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, vỏ màu đen, có số IMEI: 354580056073219, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA Lumia 925, vỏ màu đen, số IMEI: 356717054884977, đã qua sử dụng.

Tuyên trả lại cho bị cáo Phan Tuấn Đ 01 (một) điện thoại di động mặt sau có dòng chữ VERTU, vỏ bằng kim loại màu đỏ, số IMEI: 3538008197878354, đã qua sử dụng.

Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ một cách khách quan toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Phan Đình H và Phan Tuấn Đ đều khai nhận tội đúng như nội dung của bản cáo trạng đã nêu ở trên. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với vật chứng cũng như tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án khẳng định: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 18/6/2017, tại khách sạn Việt Thái, thuộc tổ dân phố 10, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Phan Đình H và Phan Tuấn Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,2696 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hồng lĩnh phát hiện bắt quả tang. Xét năng lực chịu trách nhiệm hình sự và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với hàm lượng 1,2696 gam Methamphetamine của các bị cáo thì đã có đầy đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Phan Đình H và Phan Tuấn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vậy nên, Viện kiểm sát thị xã Hồng Lĩnh truy tố các bị cáo Phan Đình H và Phan Tuấn Đ theo khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 có khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù, Tuy nhiên, tội

“ tàng trữ trái phép chất ma túy “ quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 có mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm mức án nhẹ hơn so với khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 phù hợp với căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015.

Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của các bị cáo Phan Đình H và Phan Tuấn Đ bị VKS nhân dân Thị xã Hồng Lĩnh truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 và phù hợp với quy định tại điểm e mục 3.6 thông tư liên tịch số 17/2007 ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân Tối cao, Bộ tư pháp, về hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội, hoàn toàn chính xác không oan, sai

Đây là một vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn. Phan Đình H là người gợi ý ra việc đi mua ma túy và là người cầm tiền trực tiếp đi mua ma túy nên giữ vai trò là người khởi xướng và thực hành, cùng Phan Tuấn Đ dùng xe ô tô chở H và đưa tiền cho H đi mua ma túy nên giữ vai trò là người giúp sức.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó đã xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội; Xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và lây lan tệ nạn nghiện ma túy. Do đó cần phải xử phạt các bị cáo thật nghiêm và cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục đối với bị cáo cũng như răn đe và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Có nhân thân tốt, khi phạm tội thành khẩn khai báo. Bị cáo Phan Tuấn Đđược hưởng thêm tình tiết là Người phạm tội tích cực giúp các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm, việc đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm p,q khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự để cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ này là phù hợp và đúng với quy định của pháp luật.

Từ những đánh giá phân tích trên, HĐXX xét thấy cần có một mức án thật nghiêm và phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian dài để cải tạo,nhằm giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội cũng như phòng ngừa chung loại tội phạm này đang ngày càng gia tăng trong xã hội hiện nay nói chung và địa bàn Thị xã Hồng Lĩnh nói riêng.

Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần vì đã thành khẩn khai báo được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS; Bị cáo Phan Tuấn Đ có thành tích giúp sức cho cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh phát hiện điều tra tội phạm được quy định tại điểm q khoản 1 Điều 46 BLHS; Cho nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm p,q khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 là đúng quy định pháp luật.

- Về vật chứng của vụ án: Cần áp dụng điểm a,b, đ khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 1,1981 gam Methamphetamine; 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu WHITE HORSE là dụng cụ các đối tượng dùng để cất dấu ma túy; Tịch thu hóa giá sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, vỏ màu đen, có số IMEI: 354580056073219, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA Lumia 925, vỏ màu đen, số IMEI: 356717054884977, đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Phan Tuấn Đ 01 (một) điện thoại di động mặt sau có dòng chữ VERTU, vỏ bằng kim loại màu đỏ, số IMEI: 3538008197878354, đã qua sử dụng.

Hội đồng xét xử xét thấy lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Phan Thanh S

- Giám đốc Công ty cổ phần vận tải Hà Tĩnh là người trực tiếp quản lý và chủ sở hữu xe ô tô biển kiểm soát 38A -049.98 cũng là người quản lý Phan Tuấn Đ và giao cho Đ chiếc xe ô tô biển kiểm soát 38A -049.98 để quản lý và sử dụng hàng ngày. Quá trình điều tra đã làm rõ việc Đ sử dụng xe ô tô của công ty làm phương tiện chở Hđi mua ma túy, công ty và ông S không biếtvì vậy không có căn cứ để xử lý đối với Phan Thanh S, về chiếc xe ô tô biển kiểm soát 38A -049.98 cơ quan điều tra đã trả lại cho công ty cổ phần vận Tải Hà Tĩnh là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Trong vụ án này Phan Tuấn Đ và Phan Đình H khai người bán 1,2696 gam chất ma túy Methamphetamine nói trên cho các bị cáo là người đàn ông tên “L” ở thị trấn Nghèn, Huyện Can Lộc nhưng không rõ tên tuổi và địa chỉ ở đâu; đồng thời cơ quan CSĐT cũng đã phối hợp với trung tâm Viễn thông thị xã Hồng Lĩnh tiến hành xác minh chủ số thuê bao 0946.633.541 nhưng số điện thoại 0946.633.541 không đăng kí chính chủ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hồng Lĩnh đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa có kết quả nên đang tiếp tục điều tra làm rõ khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Phan Đình H và bị cáo Phan Tuấn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; ý thứ nhất điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14; Khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 xử bị cáo Phan Đình H 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2017.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; ý thứ nhất điểm p, điểm q khoản 1Điều 46 Bộ luật hình sự  năm 1999; điểm b khoản 1 Điều 2 nghị quyết 41/2017/QH14; Khoản 3 Điều 7 và khoản 1 điều 249 BLHS 2015 xử bị cáo Phan Tuấn Đ 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2017.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 41 BLHS; điểm a, c, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 1,1981gam Methamphetamine ; 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu WHITE HORSE là dụng cụ các đối tượng dùng để cất dấu ma túy.

Tịch thu hóa giá sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, vỏ màu đen, có số IMEI: 354580056073219, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA Lumia 925, vỏ màu đen, số IMEI: 356717054884977, đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Phan Tuấn Đ 01 (một) điện thoại di động mặt sau có dòng chữ VERTU, vỏ bằng kim loại màu đỏ, số IMEI: 3538008197878354, đã qua sử dụng. (Tình trạng vật chứng có tại biên bản giao vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh ngày 21/8/2017).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 2 Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Phan Đình H và Phan Tuấn Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho các bên có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người trên vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.


79
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về