TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
BẢN ÁN 200/2018/HNGĐ-ST NGÀY 12/10/2018 VỀ LY HÔN
Ngày 12 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 699/2018/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 8 năm 2018 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 617/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Tạ Thị Phương Th; cư trú tại nhà không số, đường Đ, khóm 6,phường N, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: Anh Lê Văn T; cư trú tại nhà không số, đường Đ, khóm 6, phường N, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Về hôn nhân, chị Tạ Thị Phương Th và anh Lê Văn T chung sống với nhau vào năm 2015 nhưng đến năm 2017 mới đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường N, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu chung sống có hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2018 giữa anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn được nguyên nhân theo chị Th trình bày là do anh T thường hay tụ tập bạn bè để uống rượu, đi sớm về muộn, không quan tâm đến vợ con, hiện chị với anh T đã sống ly thân từ 05 tháng nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Th yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh T.
Về con chung, chị Th khai có 01 người con là Lê Phương Quỳnh, sinh ngày 22/12/2015. Hiện đang chung sống với anh, chị. Khi ly hôn, chị Th yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung, chị Th khai không có.
Đối với anh T, tuy đã được Thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng anh không đến Toà, cũng không gửi văn bản để nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Th nên Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Văn T đã nhận được thông báo thụ lý vụ án và được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử nhưng anh vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T.
[2] Về hôn nhân, chị Th và anh T chung sống với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh, chị được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tại phiên toà, chị Th khai nhận mâu thuẫn chủ yếu là do anh T thường uống rượu, không quan tâm đến gia đình vợ con tuy chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh T vẫn không sửa đổi nên chị không thể tiếp tục chung sống với anh T được, hiện chị cũng không còn tình cảm với anh T. Trường hợp Toà án giải quyết không cho chị ly hôn, chị cũng không chung sống với anh T. Riêng anh T tuy đã được triệu tập hợp lệ, song anh vẫn vắng mặt không rõ lý do và trong thời gian giải quyết vụ án, anh T không đến Toà, không gửi văn bản ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện cũng như lời trình bày của chị Th. Cho nên, có cơ sở để xác định lời trình bày của chị Th về thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn và thời gian sống ly thân là đúng.
Với mâu thuẫn chị Th trình bày nêu trên, có căn cứ để nhận định rằng tình trạng hôn nhân giữa chị Th với anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kèo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của chị Th về hôn nhân được chấp nhận.
[3] Về con chung là Lê Phương Quỳnh, sinh ngày 22/12/2015. Khi ly hôn, chị Th nhận nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên là quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ. Tuy nhiên, trong thời gian giải quyết vụ án anh T đã được triệu tập hợp lệ và biết được nội dung yêu cầu của chị Th nhưng anh T không đến Toà cũng không có ý kiến gì. Cho nên, chưa có căn cứ để xác định việc giao con cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con.
Đối với việc cấp dưỡng, tuy Toà án có giải thích cho chị Th biết việc cấp dưỡng nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của con nhưng chị Th cho rằng chị có đủ điều kiện, khả năng để nuôi dưỡng con – đây là ý chí tự nguyện của chị Th nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Do đó, yêu cầu của chị Th về con là có cơ sở.
[4] Về tài sản chung và nợ chung, chị Th khai không có nên không xem xét.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, chị Th phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Tạ Thị Phương Th về việc xin ly hôn anh Lê Văn T.
- Giao cháu Lê Phương Quỳnh, sinh ngày 22/12/2015 cho chị Tạ Thị PhươngTh chăm sóc, nuôi dưỡng và không đặt ra trách nhiệm anh Lê Văn T cấp dưỡng nuôicon.
Anh Lê Văn Tính có quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung, chị Tạ Thị Phương Th khai không có nên không xem xét.
2. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị Tạ Thị Phương Th phải chịu số tiền là 300.000đ. Ngày 07/8/2018, chị Th đã nộp số tiền tạm ứng án phí là300.000đ theo biên lai số 0001147 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước.
Chị Th được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
Bản án 200/2018/HNGĐ-ST ngày 12/10/2018 về ly hôn
| Số hiệu: | 200/2018/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 12/10/2018 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về