Bản án 199/2017/HNGĐ-ST ngày 20/12/2017 về tranh chấp ly hôn và tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 199/2017/HNGĐ-ST NGÀY 20/12/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 20 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 404/2017/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2017 về việc “Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 191/2017/QĐST - HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1979. (Có mặt) Cư trú: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Phan Văn T1, sinh năm 1972. (Vắng mặt) Cư trú: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 17 tháng 4 năm 2017 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày:

Bà và ông T1 sống chung với nhau năm 2002, có đăng ký kết hôn, sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân đến nay. Nguyên nhân do tính tình không hợp, ông T1 không lo làm ăn, ông T1 không quan tâm đến vợ con và có những lời nói xúc phạm đến danh dự của bà. Hiện nay tình cảm không còn, bà xin được ly hôn với ông Trường.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phan Thanh N, sinh ngày 05/4/2003. Hiện nay cháu N đang sống với bà T. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Ông Phan Văn T1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Mâu thuẫn giữa chị T và anh T1 đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T xin ly hôn anh T1 biết được nhưng không tạo điều kiện để hàn gắn, anh T1 không gởi văn bản trình bày ý kiến. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu xin ly hôn là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Có 01 con chung tên Phan Thanh N, sinh ngày 05/4/2003, hiện đang sống với chị T Khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Mặt khác, cháu N có nguyện vọng sống với mẹ. Để ổn định cuộc sống cho cháu, nghĩ nên để chị T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N là phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về nợ chung: Không có.

Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh Tuyền với anh Phan Văn Trường, chị T được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu N, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thanh T khởi kiện ông Phan Văn T1, ông T1 cư trú Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, phù hợp theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Phan Văn T1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hợp pháp. Quá trình chung sống do ông, bà bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến va chạm, mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau. Mặc dù đã được cha, mẹ hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không giữa bà T và ông T1 không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Bà T và ông T1 ly thân từ năm 2014 đến nay không còn liên lạc. Tại phiên tòa, bà T xác định tình cảm không còn. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà T là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về con chung: Vợ chồng 01 con chung tên Phan Thanh N, sinh ngày 05/4/2003. Hiện cháu N đang sống với bà T. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Hiện nay cháu N đã sống ổn định với bà T, cháu N cũng có nguyện vọng sống với mẹ. Bà T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N, ông T1 cũng không có ý kiến phản đối. Tại biên bản xác minh ngày 24/10/2017, ông Võ Văn S phó trưởng ấp T cung cấp thông tin, cháu N sống với bà T vẫn được đi học, phát triển tốt về tinh thần và thể chất, nhà bà T sinh sống hiện tại cũng gần trường học, trạm y tế đảm bảo về việc học hành cũng như chăm sóc sức khỏe cho cháu N. Do đó, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà T là được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét đóng góp phí tổn nuôi con chung đối với ông Trường.

[5]. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. [6]. Về nợ chung: Không có.

Ghi nhận hai bên xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của bà T và ông T1 thì ông, bà phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

[7]. Về án  phí: Căn cứ Điều  147  Bộ luật tố  tụng  dân sự;  nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị  Thanh T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39, 147, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh T.

[1]. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Phan Văn T1.

[2]. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thanh T được tiếp tục chăm sóc, nuôidưỡng 01 con chung tên Phan Thanh N, sinh ngày 05/4/2003.

Bà Nguyễn Thị Thanh T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Phan Văn T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3]. Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

[4]. Về nợ chung: Không có, không đề cập giải quyết.

[5]. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm300.000 (ba trăm ngàn) đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số 0014242 ngày 10/8/2017 củaChi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Bà T đã nộp đủ.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


177
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 199/2017/HNGĐ-ST ngày 20/12/2017 về tranh chấp ly hôn và tranh chấp nuôi con

Số hiệu:199/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 20/12/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về