Bản án 198/2018/HNGĐ-ST ngày 05/06/2018 về xin ly hôn

 TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 198/2018/HNGĐ-ST NGÀY 05/06/2018 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 05 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2018/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 01 năm 2018 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2018/QĐXX-ST, ngày 27 tháng 4 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2018/QĐST-HN, ngày 17 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Võ Thị Mỹ P (tên gọi khác T), sinh năm 1978.

Địa chỉ: ấp 3, xã H, huyện H, tỉnh Hậu Giang.

2.Bị đơn: Phan Chiến C, sinh năm 1977.

Địa chỉ: ấp 3, xã H, huyện H, tỉnh Hậu Giang.

Các đương sự có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Võ Thị Mỹ P (sau đây gọi chị P) trình bày: giữa chị và bị đơn Phan Chiến C (sau đây gọi anh C) qua mai mối mà tự nguyện quyết định đi đến đời sống chung vào năm 1996 nhưng không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, anh C có hành vi bạo lực trong gia đình; đồng thời, anh C còn có tình cảm với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau và đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2017 đến nay. Do cuộc sống chung không hạnh phúc, chị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

-Về hôn nhân: xin ly hôn với anh C.

-Về con chung: có một người con chung tên Phan Công T, sinh ngày 15.8.1997, nay đã trưởng thành nên không yêu cầu xem xét về quyền nuôi con chung.

-Về nợ và tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng, anh C thừa nhận lời trình bày của chị P về quan hệ hôn nhân, con chung và thời gian ly thân là đúng, anh C cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do anh nghi ngờ chị P có người đàn ông khác, từ đó vợ chồng hay cãi nhau, anh C thừa nhận có quen biết với người phụ nữ khác nhưng chỉ là quan hệ bạn bè của nhau. Do còn thương vợ nên anh chưa đồng ý ly hôn. Giả sử phải ly hôn: con chung đã trưởng thành; tài sản và nợ chung tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến cho rằng trong quá trình tố tụng. Tòa án và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng; đồng thời, đề nghị Tòa án không công nhận chị P và anh C là quan hệ vợ chồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

[2] Xét về quan hệ hôn nhân: chị P và anh C tự nguyện tiến tới đời sống chung như vợ chồng vào năm 1996 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân không hợp pháp và không được pháp luật thừa nhận.

[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị P, Hội đồng xét xử xét thấy: trong thời gian chung sống giữa chị và anh C phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không tin tưởng nhau trong cuộc sống, bất đồng quan điểm mà không có biện pháp để hòa giải đoàn tụ, vợ chồng sống ly thân từ tháng 7 năm 2017 đến nay, tự ai người đó sống, không ai quan tâm lo lắng cho ai. Trong quá trình giải quyết, Tòa đã tạo điều kiện để anh chị được đoàn tụ và tiến tới đăng ký kết hôn theo quy định. Anh C chưa đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được giải pháp để đoàn tụ. Tại phiên tòa hôm nay anh C đưa ra giải pháp đoàn tụ nhưng chị P không đồng ý, chị P xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh C và cương quyết xin ly hôn . Tư đo thây răng hôn nhân giữa anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng , đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị P. Tuy nhiên, do hôn nhân giữa anh chị không đăng ký kết hôn nên khi có yêu cầu ly hôn, căn cứ khoản 1, Điều 14 Luật hôn nhân gia đình, không công nhận anh chị là quan hệ vợ chồng.

[4] Về con chung: có một người con chung đã đủ tuổi trưởng thành nên không xem xét về quyền nuôi con.

[5] Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu, không xem xét;

[6] Lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

[7] Về án phí: chị P phải nộp theo quy định pháp luật. Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các Điều 14, 53 và 56 Luật hôn nhân gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Võ Thị Mỹ P và anh Phan Chiến C.

2.Về con chung: đã đủ tuổi trưởng thành, không xem xét về quyền nuôi con chung.

3.Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu, không xem xét 4.Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: chị Võ Thị Mỹ P phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0013151, ngày 15.01.2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang thành án phí, không ai phải nộp thêm.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


60
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 198/2018/HNGĐ-ST ngày 05/06/2018 về xin ly hôn

Số hiệu:198/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phụng Hiệp - Hậu Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về