Bản án 197/2017/HSST ngày 05/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 197/2017/HSST NGÀY 05/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 

Ngày 05/9/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 209/2017/HSST ngày 21 tháng 8 năm 2017 đối với:

Bị cáo: Quàng Văn M, sinh năm 1978, sinh tại Điện Biên; Tên gọi khác: Không

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Bản Na H, xã Hua Th, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 02/12

Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không Con ông: Lò Văn Kh - SN 1956; con bà: Lò Thị H (Đã chết)

Bố dượng: Quàng Văn Ngh (Đã chết); Mẹ kế: Lò Thị L - SN 1961 Gia đình bị cáo có 02 em cùng mẹ khác cha và 03 em cùng cha khác mẹ

Vợ: Lò Thị Đ sinh năm 1977 và có 02 con: Con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2003 Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/5/2017 đến ngày xét xử, bị cáo có mặt tại phiên toà.

NHẬN THẤY

Bị cáo Quàng Văn M bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 19/5/2017 Quàng Văn M một mình đi bộ từ nhà đến bản Nậm Khẩu H, xã Nà Nh, huyện Điện Biên mục đích đi mua ma túy để bản thân sử dụng. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, tại bản Nậm Khẩu H, M đã gặp một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch, qua trao đổi M đã nhờ mua hộ được 01 gói hêrôin gói bằng nilon màu trắng miệng được hàn kín với giá 100.000 đồng.

Sau khi mua được hêrôin, M lấy ra một ít để sử dụng. Số hêrôin còn lại M gói lại như cũ rồi hơ lửa hàn kín và để trong túi áo ngực bên trái đang mặc. Khi M đang sử dụng hêrôin thì thấy người đàn ông mua hộ đang lên cơn nghiện nên M đã cho cùng sử dụng ma túy. Số hêrôin còn thừa sau khi sử dụng, M lấy mảnh giấy bạc màu vàng gói lại và cất vào túi quần bên trái M đang mặc. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi M đi đến đầu bản Pa S, xã Hua Th, huyện Điện Biên thì bị tổ công tác Đồn Biên Phòng Mường Pồn phát hiện bắt quả tang thu giữ 02 gói hêrôin.

Tại biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 11 giờ 00 phút ngày 20/5/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên thì mẫu chất bột màu trắng đục nghi là hêrôin thu giữ của Quàng Văn M có trọng lượng là 0,39 gam trích mẫu gửi giám định 0,11 gam.

Tại kết luận giám định số 494/GĐ-PC54 ngày 20/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Quàng Văn M là hêrôin. Không hoàn lại mẫu vật sau khi giám định.

Bản Cáo trạng số 143/QĐ -VKS-HS ngày 21/8/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Quàng Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 194, Điểm p khoản 1 điều 46 BLHS tuyên phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo được áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội theo quy định tại Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày20/6/2017 của Quốc hội khóa  XIV; khoản 3 Điều 7 BLHS 2015; khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015

Áp dụng Điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,39 gam hêrôin, gửi giám định 0,11 gam là vật chứng vụ án.

Về án phí:

Căn cứ Điều 99 BLTTHS, Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị HĐXX miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản Luận tội, không có ý kiến gì tranh luận.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với cáo trạng truy tố cũng như vật chứng thu giữ.

Xét hành vi phạm tội: Ngày 19/5/2017 bị cáo đã có hành vi cất giấu 02 gói hêrôin có trọng lượng 0,39 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành với lỗi cố ý trực tiếp. Với mục đích mua ma túy để sử dụng thì hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại  Điều 194/BLHS năm 1999.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Với mối nguy hại của chất ma túy đối với gia đình và toàn xã hội, Đảng, Nhà nước và nhân dân đang tích cực đấu tranh phòng và chống tội phạm về ma túy thì bị cáo vì mục đích sử dụng của bản thân nên đã tiếp tay cho tệ nạn và tội phạm mua bán ma túy phát triển gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

Xét tính chất mức độ phạm tội: Trọng lượng Hêrôin bị thu giữ là 0,39 gam trong khoảng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam với mục đích là để sử dụng thì hành vi của bị cáo là nghiêm trọng phải chịu trách nhiệm hình sựvề tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 có khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa XIV, Khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 về thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành. Hành vi phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo Quàng Văn M theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung theo luật 12/2017QH14 ngày 20/6/2017 quy định mức hình phạt từ 01 năm đến 5 năm tù. HĐXX sẽ cân nhắc tình tiết có lợi trên để áp dụng một mức hình phạt phù hợp đối với bị cáo.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã Hua Th, huyện Điện Biên. Khi sinh ra thì bố đẻ bỏ đi với mẹ kế. Sau đó mẹ đẻ kết hôn với Quàng Văn Ngh (Quàng Văn Nghiêm). Từ nhỏ bị cáo sống với mẹ đẻ và lấy họ của bố dượng. Năm 1996 kết hôn với Lò Thị Đ. Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2014. Qúa trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46/BLHS. Bị cáo có bố đẻ là Lò Văn Kh được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang, bố dượng là Quàng Văn Ngh (Quàng Văn Nghiêm) cũng được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang. Tuy nhiên theo quy định của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng 26/2005/PL-UBTVQH11  ngày  29/6/2005 của  Ủy  ban Thường vụ Quốc hội và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 04/2012/UBTVQH 13 ngày 16/7/2013 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội thì danh hiệu Huân chương chiến sĩ vẻ vang không thuộc trường hợp được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng nên không là căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 và điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. HĐXX căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo, tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân người phạm tội và có xem xét đến quy định có lợi cho người phạm tội theo điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa XIV, Khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015 để áp dụng đối với bị cáo Quàng Văn M.

Theo khoản 5 Điều 194/BLHS quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số hêrôin bị thu giữ bị cáo khai nhờ một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch mua hộ. Quá trình điều tra không có cơ sở để xác minh, làm rõ. Hội đồng xét xử không xem xét.

Vật chứng của vụ án là 0,39 gam hêrôin gửi giám định 0,11 gam không hoàn lại mẫu cần được tịch thu tiêu hủy theo Điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, HĐXX miễn án phí cho bị cáo.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

Áp dụng khoản 1 Điều 194 BLHS; Điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS; Điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa XIV, Khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015; Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015: Xử phạt bị cáo 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 19/5/2017

2. Về vật chứng: Áp dụng Điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,39 gam hêrôin gửi giám định 0,11 gam không hoàn lại mẫu.(Toàn bộ vật chứng đã được Công an huyện Điện Biên bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên hồi 16 giờ 20 phút ngày 25 tháng 8 năm 2017)

3Án phí:

Áp dụng Điều 99/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Miễn án phí cho bị cáo.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 05/9/2017./.


94
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về