Bản án 195/2020/HSST ngày 11/12/2020 về tội chứa mại dâm

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 195/2020/HSST NGÀY 11/12/2020 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM

Ngày 11 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 212/2020/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Thị B, Sinh năm 1987 tại Bình Thuận; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn Phú Điền, xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh, Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: không biết chữ, Nghề nghiệp: buôn bán; Cha: ông Bùi D; Sinh năm: 1943 (đã chết), Mẹ: bà Lê Thị T; Sinh năm 1961; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt truy nã ngày 25/9/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ-Công an TP.Phan Thiết.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 25/10/2017, Lê Hữu T (sinh năm 1978, trú khu phố 7, phường Phú Thủy, Tp. Phan Thiết) và Bùi Thị B (sinh năm 1987, trú tại thôn Phú Lạc, xã Phú Điền, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận) - sống chung như vợ chồng, cùng thỏa thuận thuê mặt bằng quán của ông Hồ Ngọc Tuấn (sinh năm 1979, trú tại khu phố 2, phường Phú Trinh, Tp. Phan Thiết) ở đường Trường Chinh, thuộc khu phố 2, phường Phú Tài, TP.Phan Thiết và sử dụng địa điểm này làm nơi chứa mại dâm để thu lợi bất chính. Trước quán của T và B có gắn đèn nhấp nháy để làm tín hiệu cho khách biết quán có hoạt động chứa mại dâm, trong quán được bố T 05 phòng, mỗi phòng để 01 tấm nệm để phục vụ cho việc mua bán dâm. Hằng ngày B và T ngồi trước quán để đón khách. Khi có khách mua dâm đến thì giữa T, B với khách thỏa thuận giá cả, sau đó, B và T dùng điện thoại gọi đến các lò đào ở đường Trường Chinh gọi gái bán dâm đến quán của T và B để bán dâm. Khi gái bán dâm đến, T và B cho khách mua dâm và gái bán dâm vào phòng để thực hiện hành vi mua bán dâm (giao cấu). T và B ở ngoài trước quán cảnh giới và chờ giao cấu xong thì thu tiền của khách mua dâm. Mỗi lần vào mua dâm, T và B thu 150.000 đồng, trong đó T và B lấy 50.000 đồng tiền phòng, gái bán dâm 100.000 đồng.

Vào ngày 20/11/2017 T và B mở quán như thường lệ. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi T và B ngồi trước quán để đón khách đến mua dâm thì có Lê Văn Đức (sinh năm 1968, trú tại thôn Thiện Bình, xã Thiện Nghiệp) và Mai Văn Việt (sinh năm 1977, trú tại ấp Cái Nước, xã Hưng Yên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang) đến quán. Khi vào quán Đức và Việt lần lượt hỏi: “Ở đây có đào không” (gái bán dâm) thì vợ chồng T và B trả lời là “Có”. Lúc này, Đức và Việt hỏi: “Giá bao nhiêu” thì B trả lời: “150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng)” trong đó có 01 chai nước khoáng, khi nghe vậy Đức, Việt không nói gì. B nói Đức và Việt lên võng nằm chờ một lát. B sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J5 Prime có số thuê bao 0983928770 gọi cho chủ lò đào tên Phú (không rõ số điện thoại) Phú trả lời là không có đào. T nghe vậy nên sử dụng điện thoại di động hiệu Mastel có số thuê bao 0917294425 gọi cho số thuê bao 0964150755 của Lê Anh Khoa (sinh năm 1982, trú thôn Xuân Tài, xã Phong Nẫm, TP.Phan Thiết) yêu cầu Khoa cho 02 đào đến quán để tiếp khách. Sau đó T sử dụng số thuê bao 0917294425 gọi cho số thuê bao 0987509293 của Trần Đình Phong (sinh năm 1986, trú thôn Xuân Tài, xã Phong Nẫm, TP Phan Thiết) yêu cầu cho 01 đào đến quán để tiếp khách. Tiếp tục T sử dụng số điện thoại 0917294425 gọi đến chủ lò đào Văn Quý Hào (sinh năm 1975, trú khu phố 2, phường Phú Tài, TP Phan Thiết) yêu cầu chở 01 đào đến quán để tiếp khách. Sau khi điện thoại cho các chủ lò đào xong khoảng 10 phút sau Trần Đình Phong điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Thị Ngọc Loan (sinh năm 1992, trú tại phường Long Tiền, quận Bình Thủy, TP Cần Thơ), Văn Quý Hào điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Thị Lệ Thu (sinh năm 1998, trú thôn Túy Sơn, xã Xuân Thọ, TP.Đà Lạt) đến quán của T. Thấy gái bán dâm đến quán, Bùi Thị B đưa cho Loan và Thu mỗi người 02 chiếc khăn lạnh. Sau khi lấy khăn, Loan cùng Đức vào phòng số 01, Thu cùng Việt đi vào phòng số 02 của quán.

Khi vào phòng Loan đóng cửa phòng lại, Đức tự cởi quần áo của mình ra và nằm dưới tấm nệm trải sẵn dưới nền gạch, Loan xé 01 khăn lạnh lau dương vật của Đức rồi dùng tay kích thích dương vật Đức cương cứng lên. Loan xé 01 bao cao su mang sẵn đeo vào dương vật của Đức, Loan ở tư thế nằm ngửa, Đức ở tư thế nằm úp đè lên mình của Loan để thực hiện hành vi giao cấu. Trong lúc đó tại phòng số 02, Thu cùng Việt cũng đóng cửa phòng lại, Việt tự cởi quần áo của mình ra và nằm dưới tấm nệm đã được trải sẵn dưới nền gạch, còn Thu tự cởi quần lót của mình ra (Thu đang mặc váy). Thu xé khăn lạnh lau dương vật của Việt rồi dùng miệng kích thích dương vật của Việt cương cứng, Thu xé bao cao su mang sẵn đeo vào dương vật của Việt. Thu nằm ngửa dưới nệm, Việt nằm úp đè lên người của Thu. Khi Việt và Thu đang quan hệ tình dục (giao cấu), còn Đức và Loan chuẩn bị thực hiện hành vi giao cấu thì Tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra – Công an TP.Phan Thiết phối hợp cùng Công an phường tiến hành kiểm tra và bắt quả tang.

Tang vật thu giữ trong quá trình bắt quả tang gồm:

+ 01 bao cao su và 01 vỏ bao cao su đã qua sử dụng, 01 khăn giấy đã qua sử dụng, 01 khăn giấy chưa qua sử dụng và 01 tuýp kem bôi trơn hiệu KY tại phòng số 2.

+ 01 điện thoại samsung Galaxy J5 Prime, gắn sim số 0983928770 của Bùi Thị B dùng vào việc gọi gái bán dâm.

+ 01 điện thoại hiệu Mastel gắn sim số 0917294425 của Lê Hữu T và Bùi Thị B cùng sử dụng để gọi gái bán dâm.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Hữu T, Bùi Thị B cùng các đối tượng có liên quan đã khai nhận hành vi của mình như trên.

Quá trình điều tra, bị can Bùi Thị B lấy lý do đang mang thai để không bị tạm giam, sau đó bỏ trốn khỏi nơi cư trú nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã số 07 ngày 08/3/2018 đối với B. Ngày 31/5/2018, Cơ quan điều tra kết thúc điều tra vụ án, đồng thời ra Quyết định tách vụ án và tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can Bùi Thị B để xem xét xử lý sau.

Ngày 25/9/2020, Bùi Thị B đã bị bắt theo Quyết định truy nã, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự và ra lệnh tạm giam đối với Bùi Thị B. Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, Bùi Thị B thừa nhận toàn bộ hành vi như trên.

Đối với các vật chứng trong vụ án: Tòa án nhân dân TP.Phan Thiết đã xử lý khi xét xử đối với Lê Hữu T vào ngày 14/8/2018.

Tại bản cáo trạng số 212/CT/VKS-HS ngày 20/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Bùi Thị B về tội “Chứa mại dâm” theo điểm c khoản 2, Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo 5 – 6 năm tù.

-Ý kiến của bị cáo: bị cáo xin HĐXX xem xét xử mức án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về căn cứ xác định hành vi: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo được nêu trong cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết là đúng thực tế. Nhận thấy lời khai của bị cáo là phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định:

Do hám lợi, Bùi Thị B cùng với Lê Hữu T đã sử dụng mặt bằng quán giải khát ở trên đường Trường Chinh thuộc khu phố 2, phường Phú Tài, TP.Phan Thiết do T và B làm chủ để làm địa điểm chứa mại dâm nhằm mục đích thu lợi bất chính.

Vào lúc 23 giờ ngày 20/11/2017, Lê Văn Đức và Mai Văn Việt là hai khách không quen biết nhau, ngẫu nhiên đến quán của T và B mua dâm. Đức và Việt tự thỏa thuận riêng với T và B để mua dâm. Khi Lê Văn Đức với Nguyễn Thị Ngọc Loan đang thực hiện hành vi giao cấu tại phòng số 1; Mai Văn Việt với Nguyễn Thị Lệ Thu đang thực hiện hành vi giao cấu tại phòng số 2 của quán thì bị bắt quả tang.

Bùi Thị B chứa hai đôi mua bán dâm độc lập với nhau tại cùng một thời điểm do đó đã phạm vào tội Chứa mại dâm theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 254 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), với tình tiết định khung “Phạm tội nhiều lần”, có khung hình phạt từ 05 năm đến 15 năm tù. Tuy nhiên, do Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định tội danh đối với hành vi này tại điểm c khoản 2 Điều 327, có khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù, là nhẹ hơn Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Do đó, áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo theo khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và hướng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Bùi Thị B theo điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). HĐXX xét thấy truy tố của VKS đối với bị cáo B là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến thuần phong mỹ tục và đời sống văn hóa ở khu dân cư; gây mất ổn định về trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần xử lý bằng biện pháp hình sự để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ vào: điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

* Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị B phạm tội “Chứa mại dâm”.

* Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị B 05 (năm) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/9/2020.

* Áp dụng: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Bùi Thị B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự phải tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


31
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về