Bản án 195/2020/HS-ST ngày 11/09/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

BẢN ÁN 195/2020/HS-ST NGÀY 11/09/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 11 tháng 9 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 211/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 222/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2020, đối với:

1. Bị cáo: Hà Thế N, sinh năm 1982 tại Phú Thọ. Hộ khẩu thường trú: 137x đường H, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Chỗ ở: không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Hà Văn H, mẹ: Cao Thị N;

vợ, con: không có; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Quyết định số 392/QĐ- XPHC ngày 23-6-2020 của Công an thành phố V xử phạt 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị bắt ngày 24-4-2020. (có mặt)

2. Bị hại: Anh Bùi Văn D, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số 417x đường C, thành phố V, Bà Rịa-Vũng Tàu. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 20 phút ngày 04-3-2020, Hà Thế N chạy xe mô tô hiệu Honda Future biển số 72H9-3869 đi ngang công trình xây dựng tại 36A Đường x, Phường M, thành phố V do anh Bùi Văn D làm chủ. Thấy công trình không có người trông coi, N đã vào công trình lén lút chiếm đoạt 16 (mười sáu) chân giàn giáo xây dựng; 30 (ba mươi) cây chéo giàn giáo bằng sắt; 01 (một) mô tơ máy trộn bê tông; 01 (một) ổ khóa; 01 (một) dây xích sắt; 01 (một) xà beng. Số tài sản sau khi lấy được, N mang đi bán tại cửa hàng phế liệu trên đường Lương Thế Vinh, Phường 9, thành phố V được 1.400.000đồng (một triệu bốn trăm nghìn đồng). Sau đó, N tiếp tục quay lại công trình trên chiếm đoạt 05 (năm) vỉ giàn giáo bằng sắt, khi N đang đưa vỉ ra khỏi công trình thì bị phát hiện, N bỏ lại xe máy và 05 vỉ vừa chiếm đoạt được, tẩu thoát.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 85/KL-HĐĐG-TTHS, ngày 11-05- 2020, của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thành phố V xác định: 16 chân giàn giáo trị giá 1.200.000đ; 30 cây chéo giàn giáo trị giá 500.000đ; 01 mô tơ máy trộn bê tông trị giá 1.250.000đ; 01 dây xích sắt và 01 cây xà beng trị giá 200.000đ;

05 vỉ giàn giáo trị giá 300.000đ. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án là 3.450.000đ; Hội đồng định giá từ chối định giá đối với ổ khóa.

Đối với chiếc xe mô tô hiệu Honda Future biển số 72H9-3869; số máy JA02E-0524146; số khung JA020X3Y-524129 do ông Huỳnh Xuân L (sinh năm 1958, trú tại: 49x đường B, phường N, thành phố V) đứng tên chủ sở hữu trên giấy tờ. Qua xác minh, ông Lang đã bán xe trên cho Hà Thế N với giá 12.000.000đ nhưng chưa làm thủ tục sang tên quyền sở hữu, ông Lang cũng không có ý kiến gì đối với xe mô tô trên.

Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình thỏa thuận bồi thường cho anh Bùi Văn D số tiền 6.000.000đ để khắc phụ hậu quả, anh D không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ án.

Ngoài ra, vào ngày 24-04-2020, tại công trình xây dựng số 7x đường Đ, Phường B, thành phố V của anh Trần Văn D (sinh năm:1989; Trú tại: B12A1x chung cư Y đường N, Phường B, TP Vũng Tàu) làm chủ, Hà Thế N và Lê Thanh T (sinh năm 1983; HKTT: 64/x đường Đ, Phường B, thành phố V) bị Công an Phường B, thành phố V bắt quả tang có hành vi chiếm đoạt 01 máy cắt cầm tay, hiệu BOSCH, màu xanh-đen trị giá 700.000đ và 01 máy khoan cầm tay, hiệu MAKITA, màu xanh-đen trị giá 400.000đ. Cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính đối với N và T và xử lý vật chứng xong.

Qua điều tra, N còn khai nhận khoảng tháng 2 và 3-2020, N 02 lần có hành vi chiếm đoạt 02 bộ giàn giáo của 2 công trình xây dựng tại đường T và H và bán mỗi bộ được 150.000đ. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra không xác định được bị hại nên chưa có cơ sở để xử lý.

Bản cáo trạng số 218/CT-VKS ngày 17-8-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố bị cáo Hà Thế N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Hà Thế N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù; về vật chứng: đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Future biển số 72H9-3869 do bị cáo dùng phạm tội; về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và lời khai của bị hại, của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định: Khoảng 05 giờ 20 phút ngày 04-3-2020, tại công trình xây dựng tại 36A Đường X, Phường M, thành phố V, bị cáo Hà Thế N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Bùi Văn D 16 chân giàn giáo xây dựng; 30 cây chéo giàn giáo bằng sắt; 01 mô tơ máy trộn bê tông; 01 ổ khóa; 01 dây xích sắt;

01 xà beng và 05 vỉ giàn giáo bằng sắt. Tổng giá trị tài sản N đã chiếm đoạt là 3.450.000đ. Do đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi của Hà Thế N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có sức khỏe nhưng bản chất lười lao động và để có tiền tiêu xài đáp ứng nhu cầu cá nhân và sử dụng ma túy, bị cáo còn thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản khác, nhưng do không đủ cấu thành tội phạm nên không bị xử lý theo quy định. Với nhứng hành vi như vậy cho thấy nhân thân của bị cáo rất xấu nên cần phải xử phạt nghiêm nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng phòng ngừa chung.

[4] Tuy nhiên, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên căn cứ điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Xử lý vật chứng: 01 xe mô tô hiệu Honda Future biển số 72H9-3869 (Bị cáo mua của ông Huỳnh Xuân L chưa sang tên), bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[6] Trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

[7] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo về phần tội danh, điều luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về mức hình phạt đề nghị áp dụng từ 06 đến 09 tháng tù, xét thấy ngoài hành vi phạm tội này bị cáo còn thực hiện nhiều hành vi chiếm đoạt tài sản của nhiều người khác nhưng không đủ yếu tố cấu thành phạm nên không bị xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt tương xứng mới đủ răn đe đối với bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Hà Thế N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:Xử phạt: Hà Thế N 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24-4- 2020.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô hiệu Honda Future biển số 72H9-3869.

(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố V đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 188/BB.THA ngày 20-8-2020).

3. Trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

4. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.


24
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 195/2020/HS-ST ngày 11/09/2020 về tội trộm cắp tài sản

      Số hiệu:195/2020/HS-ST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vũng Tàu - Bà Rịa - Vũng Tàu
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:11/09/2020
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về