Bản án 194/2017/HSST ngày 29/11/2017 về tội cướp giật tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 194/2017/HSST NGÀY 29/11/2017 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 11 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 158/2017/HSST ngày 19/10/2017 đối với các bị cáo:

1 . Vũ Quang Đ, sinh năm 19XX, tại Hải Phòng; ĐKNKTT và chỗ ở: Số 25B/350 H V, phường S, quận H, Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; con ông Vũ Mạnh T và bà Nguyễn Thị S; có vợ là Phạm Phương H (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Chưa; bị bắt tạm giữ từ ngày 28/6/2017, tạm giam ngày 07/7/2017; có mặt.

2 . Vũ Thị V, sinh năm 19XX, tại Hải Phòng; ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn D, xã T, huyện A, Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; con ông Vũ Văn Đ và bà Phạm Thị H; chưa có chồng con; tiền án: Án số 59 ngày 12/9/2013, TAND huyện An Dương xử 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chấ ma túy; bị bắt tạm giữ từ ngày 28/6/2017, tạm giam ngày 07/7/2017; có mặt.

- Người bị hại: Nguyễn Thị Huyền M, sinh ngày 23/6/19XX; Trú tại: Số 27/99 C, quận N, Hải Phòng; vắng mặt.

NHẬN THẤY

Các bị cáo Vũ Quang Đ và Vũ Thị V bị Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 17 giờ 30 phút ngày 27/6/2017, Vũ Quang Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16N9 - 6892 chở Vũ Thị V trên đường Nguyễn Đức Cảnh theo hướng từ giải trung tâm về ngã tư Tam Bạc, khi đi đến gần ngã ba Nguyễn Đức Cảnh - đường Nhà thương, Đ và V phát hiện thấy chị Nguyễn Thị Huyền My đang đi xe máy điện, tay trái đang cầm diện thoại di động nhãn hiệu Iphone. Thấy vậy Đ và V bàn bạc thống nhất với nhau, Đ sẽ là người điều khiển xe mô tô bám theo chị My, có cơ hội sẽ áp sát để V ngồi sau giật chiếc điện thoại của chị My. Khi chị My điều khiển xe chuyển hướng về đường Hai Bà Trưng cách ngã 3 Nguyễn Đức Cảnh – Nhà Thương khoảng 10 – 15m thì Đ điều khiển xe áp sát xe chị My còn V ngồi sau dùng tay giật điện thoại của chị My, thấy V giật được điện thoại, Đ điều khiển xe chạy về khu vực ngã ba đường Nhà Thương – Hai Bà Trưng thì xe của Đ va chạm với xe mô tô đi ngược chiều nên bị đổ ra đường. V bị tổ công tác công an phường Cát Dài đang làm nhiệm vụ bắt giữ, còn Đ chạy bộ đến khu vực đường tầu thì bị bắt. Tổ công tác đã dẫn giải V, Đ cùng vật chứng về trụ sở công an phường lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Quá trình bắt giữ V, Đ, cơ quan công an đã thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, biển kiểm soát: 16N9 – 6892.

Tại kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 23 ngày 28/6/2017 của Hội đồng định giá tài sản quận Lê Chân kết luận: Giá trị còn lại của 01 chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Iphone 6 plus của chị Nguyễn Thị Huyền My là 8.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra Vũ Quang Đ và Vũ Thị V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung trên.

Theo lời trình bày của chị Nguyễn Thị Huyền My: Khi chị My đang điều khiển xe máy điện trên đường Nhà thương về đường Hai Bà Trưng thì bất ngờ bị đôi nam nữ đi xe mô tô cướp giật tài sản. Hiện tại, chị My đã nhận lại chiếc điện thoại và không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại bản Cáo trạng số 179/CT-VKS ngày 17/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố các bị cáo Vũ Quang Đ và Vũ Thị V về tội Cướp giật tài sản, theo điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà các bị cáo Vũ Quang Đ và Vũ Thị V đã khai nhận hành vi cướp giật tài sản như nội dung trên.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung trên và đề nghị HĐXX:

Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 136; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; xử phạt bị cáo Vũ Quang Đ mức án từ 42 – 48 tháng tù. Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 136; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; xử phạt bị cáo Vũ Thị V mức án từ 48-54 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản các bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi trả lại người bị hại nên không đề nghị xem xét giải quyết.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện:

Vào hồi 17 giờ 30 phút ngày 27/6/2017, Vũ Quang Đ và Vũ Thị V đã dùng xe máy để thực hiện hạnh vi chiếm đoạt chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 plus của chị Nguyễn Thị Huyền My trị giá 8.000.000 đồng tại khu vực đường Nhà thương, Lê Chân, Hải Phòng rồi nhanh chóng tẩu thoát và đã bị bắt quả tang cùng vật chứng nên đã đủ cơ sở kết luận các bị cáo Vũ Quang Đ và Vũ Thị V đồng phạm tội Cướp giật tài sản thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm, vi phạm điểm d khoản 2 Điều 136 BLHS.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm quyền sở hữu của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Xét các bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng với lỗi cỗ ý trực tiếp, mặt khác các bị cáo phạm tội có đồng phạm, bị cáo Đ đề xuất với bị cáo V đi cướp giật tài sản, còn bị cáo là người phát hiện người bị hại đang sử dụng điện thoại di động nên đã báo cho bị cáo Đ để cả hai bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Vũ Quang Đ không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo Vũ Thị V đã có 01 tiền án số 59 ngày 12/9/2013, TAND huyện An Dương xử 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy đến nay chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo V phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Do vậy cần xử lý các bị cáo mức án nghiêm, cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục riêng đối với 02 bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo Vũ Quang Đ và Vũ Thị V đều đã thành khẩn khai báo nên cho cả 02 bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999. Riêng đối với bị cáo Đạt đã có thời gian tham gia quân ngũ nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999.

Về trách nhiệm dân sự: Chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 plus các bị cáo chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Huyền My đã được thu hồi trả lại chị My, chị My không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, biển kiểm soát 16N9 –6892, quá trình điều tra Vũ Quang Đ khai nhận chiếc xe trên là của chị Nguyễn Thị Kim Uyên, sinh năm 1978; trú tại: xã An Hưng, huyện An Dương, Hải Phòng có biểm kiểm sát 16N4 – 7667, Đạt mượn để làm phương tiện đi lại nhưng do biển kiểm soát bị hỏng nên Đ mua biển kiểm soát 16N9 – 6892 của người không quen biết lắp vào. Hiện tại chiếc xe trên được xác định là tang vật của vụ án chiếm đoạt tài sản xảy ra tại huyện An Dương nên cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Lê Chân đã chuyển cho cơ quan cảnh sát điều tra huyện An Dương điều tra theo thẩm quyền nên HĐXX không xem xét.

Đối với biển kiểm soát 16N9 – 6892, qua giám định xác định là biển kiểm soát thật, hiện chưa xác định được chủ sở hữu, cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh điều tra làm rõ xử lý sau.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Vũ Quang Đ và Vũ Thị V đồng phạm tội Cướp giật tài sản.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Vũ Quang Đ 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 28/6/2017.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Vũ Thị V 54 (Năm mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 28/6/2017.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sựNghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Các bị cáo Vũ Quang Đ và Vũ Thị V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.


87
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 194/2017/HSST ngày 29/11/2017 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:194/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Lê Chân - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/11/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về