Bản án 193/2019/DSST ngày 30/08/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 193/2019/DSST NGÀY 30/08/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 30 tháng 8 năm 201 9 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 94/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2019/QĐXX-ST ngày 16 tháng 8 năm 201 9 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị M - sinh năm 1993

Địa chỉ: Xóm 10, xã S, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Ngô Trí H - sinh năm 1982

Địa chỉ: Xóm 10, xã S, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong Đơn xin ly hôn và bản tự khai ngày 11 tháng 4 năm 2019 của nguyên đơn chị Lê Thị M trình bày: Chị Lê Thị M và anh Ngô Trí H kết hôn với nhau vào ngày 01/ 4/1996 trên cở sở tự nguyện có tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau khi kết hôn 02 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên cãi vã xung đột nhau trong cuộc sống nên dẫn đến mất dần tình cảm, vợ chồng đã sống ly thân một thời gian dài, nay mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng mục đích hôn nhân không đạt được và xét thấy tình cảm giữa vợ chồng không còn nữa nên chị Lê Thị M yêu cầu được ly hôn anh Ngô Trí H.

- Về con chung: Theo chị M trình bày vợ chồng có với nhau 01 người con chung tên là: Ngô Hoài A, sinh ngày 15/9/2016, hiện nay cháu đang ở với mẹ. bản thân chồng không quan tâm đến con chung, chị M có nguyện vọng nuôi con chung sau khi ly hôn và không yêu cầu anh Huế phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị.

- Về tài sản và các khoản nợ: Vợ chồng chưa có tài sản chung gì lớn và tự thoả thuận và không yêu cầu giải quyết.

Qúa trình giải quyết vụ án Toà án đó triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn anh Ngô Trí H vắng mặt và không chịu hợp tác làm việc với Toà án và bị đơn Ngô Trí H được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tại phiên tòa vẫn vắng mặt không rõ lý do.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán và chấp hành pháp luật những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82,83.84 Luật Hôn nhân và gia đình:

+ Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị M được ly hôn với anh Ngô Trí H

+ Về con chung: Giao cho chị Lê Thị M trực tiếp nuôi dưỡng và giao dục con chung tên là:Ngô Hoài A, sinh ngày 15/9/2016 cho đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Ngô Trí H.

+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Thị M yêu cầu giải quyết về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung theo quy định tại khoản 5 điều 28 và khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự do vậy Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Các đương sự đã được triệu tập hợp lệ nhưng quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn Ngô Trí H vắng mặt không rõ lý do, theo quy định tại khoản 1 điều 227 và khoản 1 điều 228 của BLTTDS, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2].Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị M và anh Ngô Trí H kết hôn vào ngày ngày 01/04/2016 trên cở sở tự nguyện có tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Thời gian mới kết hôn vợ chồng chung sống bình thường, nhưng chỉ một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng là do bất đồng trong quan điểm sống, thường xuyên cãi vã lẫn nhau, nặc dù gia đình hai bên nội ngoại đã hòa giải nhiều lần nhưng đều không thành, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân một thời gian và không có trách nhiệm, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, chị Mai đã vào Thành phố HCM làm việc và sinh sống, đời sống chung tình cảm giữa hai người hiện nay không còn nữa, xét thấy mâu thuẫn giữa chị M và anh H đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M đối với anh Huế là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về con chung: Vợ chồng có với nhau 01 người con chung tên là: Ngô Hoài An, sinh ngày 15/9/2016. Hiện nay con chung Ngô Hòai A dưới 36 tháng tuổi và đang sinh sống cùng với mẹ. Xét điều kiện khả năng chăm sóc con chung mỗi bên thì chị M có đủ điều kiện chăm sóc con chung tốt hơn, mặt khác con chung cháu Hoài A từ nhỏ đến nay sống với mẹ cho nên giao cho chị M chăm sóc con chung là phù hợp quy định của pháp luật. Hiện tại chị M không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh H cho nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi có yêu cầu.

[4].Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Nguyên đơn chị Lê Thị M không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

[5].Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 84 Luật Hôn nhân gia đình và khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 147, khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị M được ly hôn với anh Ngô Trí H

2. Về con chung: Vợ chồng có với nhau 01 người con chung tên là: Ngô Hoài An, sinh ngày 15/9/2016, Giao cho chị Lê Thị M trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục con chung cháu Ngô Hoài An, sinh ngày 15/9/2016 cho đến cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Ngô Trí H Anh Ngô Trí H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở

3. Về tài sản và các khoản nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

4. Về án phí: Chị Lê Thị M phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005111 ngày 11/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.


49
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 193/2019/DSST ngày 30/08/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình

Số hiệu:193/2019/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đô Lương - Nghệ An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 30/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về