Bản án 19/2020/KDTM-ST ngày 26/08/2020 về yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 19/2020/KDTM-ST NGÀY 26/08/2020 VỀ YÊU CẦU TUYÊN BỐ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÔ HIỆU

Ngày 26 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn- thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 22/2020/TLST-KDTM ngày 10 tháng 3 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2020/QĐXX-ST ngày 30 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Đỗ Văn Th, sinh 1989.

Địa chỉ: Thôn NC, xã TD, huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội.

2. Bị đơn: Anh Lưu Quang T (tức Lưu Văn T), sinh 1972 Địa chỉ: Thôn PN, xã MP, huyện Sóc Sơn,TP. Hà Nội.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh 1989 Địa chỉ: Thôn NC, xã TD, huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội.

3.2.Chị Nguyễn Thị L, sinh 1976 Địa chỉ: Thôn PN, xã MP, huyện Sóc Sơn,TP. Hà Nội.

3.3.Chị Nguyễn Thị H1, sinh 1978 Địa chỉ: Thôn NC, xã TD, huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội.

3.4.Phòng công chứng số 5 thành phố Hà Nội Người đại diện theo pháp luật: Ông Cao Mạnh C- Phó Trưởng phòng phụ trách phòng.

Đại chỉ: Đường 2, xã PL, huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội Có mặt anh Th, anh T; chị H1, chị H, ông C có đơn xin vắng mặt; chị L vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/01/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Đỗ Văn Th trình bày:

Ngày 19/7/2019 vợ chồng anh có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 391, tờ 47, diện tích 200m2 tại thôn GS, xã HK, huyện Sóc Sơn cho vợ chồng anh Lưu Quang T với giá 50.000.000đ. Sau khi nhận chuyển nhượng anh T đó làm thủ tục sang tên anh và vợ anh là chị Nguyễn Thị L. Tuy nhiên đến nay anh phát hiện ra người ký tên trong hợp đồng là người khác không phải chị L, nên anh không đồng ý chuyển nhượng nữa, anh đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, anh sẽ trả lại anh T tiền và anh T trả lại anh quyền sử dụng đất, anh không đề nghị giải quyết về hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Bị đơn anh Lưu Quang T trong quá trình giải quyết vụ án có lời khai trình bày: Năm 2019, anh có thỏa thuận nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở của anh Đỗ Văn Th, thửa đất, địa chỉ thửa đất, diện tích và giá chuyển nhượng như anh Th khai. Khi làm hợp đồng do vợ anh đi nước ngoài không có nhà, nên anh có nhờ chị Nguyễn Thị H1, sinh 1978 ở thôn NC, xã TD, huyện Sóc Sơn ký hộ phần tên của vợ anh. Nay anh Th đề nghị Tòa án giải quyết tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, anh đồng ý trả lại quyền sử dụng đất cho anh Th và anh Th trả lại anh tiền, anh không đề nghị giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H1 có lời khai trình bày: Giữa năm 2019, chị có đi cùng anh Lưu Quang T đến phòng Công chứng số 5 để ký hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với anh Đỗ Văn Th. Do thời điểm đó chị Nguyễn Thị L- vợ anh T không có ở nhà, nên anh T có nhờ chị dùng chứng minh thư của chị L để ký hợp đồng thay chị L. Chị xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, kể cả khi Tòa án đưa vụ kiện ra xét xử.

Chị Nguyễn Thị Thanh H có lời khai: Ngày 19/7/2019, vợ chồng chị có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh Lưu Quang T. anh chị đó nhận đủ tiền và bàn giao đất cho anh T. Vợ chồng anh T cũng đó được Sở Tài nguyên môi trường Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên sau đó anh chị phát hiện ra người ký hợp đồng với tư cách là chị L- vợ anh T là một người phụ nữ khác, nên anh chị đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, anh T trả lại đất cho anh chị và anh chị trả lại anh T tiền, anh chị không đề nghị giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Ông Cao Mạnh C có ý kiến: Phòng Công chứng số 5 cung cấp toàn bộ hồ sơ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1709/HĐCN/2019 cho Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định, ông xin vắng mặt trong quá trình tố tụng.

Chị Nguyễn Thị L đó được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng chị vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi được ý kiến của chị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử đều tuân thủ tương đối đúng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xột xử; việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự quy định.

-Về đường lối giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 117, 127 Bộ luật dân sự Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu. Hai bên hoàn trả lại tài sản đó nhận của nhau. Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu của 02 bên.

Về án phí: Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Ngày 19/7/2019, vợ chồng anh Đỗ Văn Th cùng vợ chồng anh Lưu Quang T và chị Nguyễn Thị L có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1709/HĐCN/2019 tại Phòng Công chứng số 5 ở đường 2, xã PL, huyện Sóc Sơn đối với thửa đất số 391, tờ bản đồ 47, diện tích 200m2 tại thôn GS, xã HK. Sau khi nhận chuyển nhượng vợ chồng anh T đó làm thủ tục sang tên và đó được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên sau đó vợ chồng anh Th phát hiện người ký tên Nguyễn Thị L - vợ anh T là người phụ nữ khác không phải vợ anh T, nên anh Th đó đề nghị tuyên hợp đồng vô hiệu. Căn cứ vào khoản 1 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn thụ lý yêu cầu khởi kiện của anh Th là đúng quy định của pháp luật.

Ngày 18/8/2020, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn đó đưa vụ án ra xét xử và tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho chị L. Tuy nhiên chị L vắng mặt không có lý do chính đáng, nên Hội đồng xét xử đó hoãn phiên tòa và tống đạt hợp lệ Quyết định mở lại phiên tòa ngày hụm nay, nhưng chị L vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Vỡ vậy căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị L là đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về yêu cầu khởi kiện của anh Đỗ Văn Th:

Ngày 19/7/2019, vợ chồng anh Đỗ Văn Th cùng vợ chồng anh Lưu Quang T và chị Nguyễn Thị L có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1709/HĐCN/2019 tại Phòng Công chứng số 5 ở đường 2, xã PL, huyện Sóc Sơn đối với thửa đất số 391, tờ bản đồ 47, diện tích 200m2 tại thôn GS, xã HK, giá chuyển nhượng 02 bên thỏa thuận là 50.000.000đ. Sau khi nhận chuyển nhượng vợ chồng anh T đó làm thủ tục sang tên và đó được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên sau đó vợ chồng anh Th phát hiện người ký tên Nguyễn Thị L- vợ anh T là người phụ nữ khác không phải vợ anh T, nên anh Th đó đề nghị tuyên hợp đồng vô hiệu. Anh T cũng xác nhận điều này và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh Th.

Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án, anh Th, anh T, chị H đều xác nhận người ký tên Nguyễn Thị L trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không phải là vợ anh T. Anh T xác nhận đó nhờ chị Nguyễn Thị H1 ký thay vợ anh, chị H1 cũng xác nhận việc này.

Ngày 22/5/2020, Tòa án đó ra Quyết định số 03/2020/QĐ-TCGĐ, trưng cầu giám định đối với chữ ký và chữ viết Nguyễn Thị L trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1709/HĐCN/2019. Tại kết luận giám định số 156/C09- P5 ngày 16/7/2020 của Viện khoa học hình sự- Bộ công an kết luận: Chữ ký và chữ viết Nguyễn Thị L trong hợp đồng chuyển nhượng và chữ ký và chữ viết do chị Nguyễn Thị H1 ký và viết làm mẫu so sỏnh là do cùng 01 người viết ra.

Theo quy định tại Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015 về giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối thì anh T đó nhờ chị H1 ký hộ tên vợ mình là chị Nguyễn Thị L làm cho anh Th, chị H hiểu sai đó là chị L. Do đó có đủ căn cứ để xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1709/HĐCN/2019 là vô hiệu do bị lừa dối về chủ thể ký hợp đồng.

Theo quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015 về hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay các bên đương sự đều thống nhất thỏa thuận: Anh T trả lại quyền sử dụng đất cho anh Th và vợ chồng anh Th trả lại anh T 50.000.000đ tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất đó nhận, các bên thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết về hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Việc thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện nên ghi nhận.

Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 555340 ngày 31/7/2019 do Sở tài nguyên môi trường thành phố Hà Nội cấp cho anh Lưu Quang T. Do các bên đương sự không có yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên Hội đồng xét xử không xem xét và đề nghị các bên đương sự liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của anh Th được chấp nhận, nên anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 116, 122, 127, 131, 500, 502 Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 26/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1,Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đỗ Văn Th đối với anh Lưu Quang T.

2, Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1709/HĐCN/2019 giữa bên chuyển nhượng là anh Đỗ Văn Th, chị Nguyễn Thị Thanh H và bên nhận chuyển nhượng là anh Lưu Quang T, chị Nguyễn Thị L được lập tại Phòng Công chứng số 5 vô hiệu.

Buộc anh Lưu Quang T, chị Nguyễn Thị L phải trả lại anh Đỗ Văn Th, chị Nguyễn Thị Thanh H thửa đất số 391, tờ bản đồ 47, diện tích 200m2 tại thôn GS, xã HK, huyện Sóc Sơn.

Buộc anh Đỗ Văn Th, chị Nguyễn Thị Thanh H phải trả lại anh Lưu Quang T 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Ghi nhận sự tự nguyện của các bên không yêu cầu giải quyết về hậu quả của Hợp đồng vô hiệu.

3.Về án phí: Anh Lưu Quang T phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại anh Đỗ Văn Th 300.000đ tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đó nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, Bl 18553 ngày 9/3/2020.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải trả lói đối với số tiền chậm trả theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Anh Th, anh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị H, Huệ, L, Phòng Công chứng số 5 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.


234
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 19/2020/KDTM-ST ngày 26/08/2020 về yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu

Số hiệu:19/2020/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Sóc Sơn - Hà Nội
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:26/08/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về
      Ngày 19/7/2019 vợ chồng anh Đỗ Văn Th có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh Lưu Quang T với giá 50.000.000đ. Sau khi nhận chuyển nhượng anh T làm thủ tục sang tên anh và vợ anh là chị Nguyễn Thị L. Tuy nhiên đến nay anh phát hiện ra người ký tên trong hợp đồng không phải chị L, nên anh không đồng ý chuyển nhượng và đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, anh sẽ trả lại anh T tiền và anh T trả lại anh quyền sử dụng đất.

      Bị đơn anh T trình bày, khi làm hợp đồng do vợ anh đi nước ngoài không có nhà, nên anh có nhờ chị Nguyễn Thị H1 ký hộ phần tên của vợ anh, anh đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh Th.

      TAND huyện Sóc Sơn tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ vô hiệu do lừa dối, vợ chồng anh T trả lại cho vợ chồng anh Th quyền sử dụng đất; vợ chồng anh Th trả lại cho anh T 50.000.000 đồng.