Bản án 19/2020/HSST ngày 01/12/2020 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 19/2020/HSST NGÀY 01/12/2020 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 01 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2020/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2020, đối với bị cáo:

Lý Văn H, sinh năm 1966, tại huyện M, tỉnh S. Nơi cư trú: Tiểu khu T, thị trấn N, huyện M, tỉnh S; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông: Lý Văn Ư (tên gọi khác Lý Văn K, đã chết) và bà Bàn Thị M; có vợ Bàn Thị H (bị hại trong vụ án) và có 02 con, con lớn sinh năm 1986, con nhỏ sinh năm 1988; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/02/2020 cho đến nay. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đỗ Văn Thuận là Luật sư, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Sơn La. Có mặt.

Bị hại: Bà Bàn Thị H1, sinh năm 1965; nơi cư trú: Tiểu khu T, thị trấn N, huyện M, tỉnh S. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

 - Lý Văn H, sinh năm 1986, nơi cư trú: Tiểu khu T, thị trấn N, huyện M, tỉnh S. Có mặt.

- Lý Văn C, sinh năm 1988, nơi cư trú: Tiểu khu T, thị trấn N, huyện M, tỉnh S. Có mặt.

Người làm chứng: Chị Bàn Thị T (tên gọi khác Bàn Thị N), sinh năm 1990 (con dâu bà H1); nơi cư trú: Tiểu khu T, thị trấn N, huyện M, tỉnh S. Có mặt.

Người phiên dịch cho bị cáo: Anh Lý Văn Sâm, sinh năm 1983; nơi cư trú:

Tiểu khu T, thị trấn N, huyện M, tỉnh S. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 31/10/2019, Lý Văn H đi uống rượu ở nhà bà Lý Thị Lan, đến khoảng 20 giờ H đi về nhà thì bị vợ là bà Bàn Thị H mắng không cho ngủ ở nhà. H bực tức cầm chiếc chăn định đem xuống lán nương ngủ thì bà H1 đến giật lấy lại chăn nên đã xảy ra cãi chửi nhau, H đi ra gian bếp lấy 01 cuộn dây cước màu xanh dọa sẽ treo cổ tự tử. Bà H1 thấy vậy đã giằng lấy cuộn dây nhưng không lấy được nên đã túm, giật tóc ông H. Hai bên giằng co vật lộn, khi ông H thoát được liền nhặt lấy 01 chiếc kìm (Dạng kéo cắt tỉa cành cây ăn quả) dài 63cm, cán bọc nhựa màu đỏ ở góc bếp. H cầm kìm bằng hai tay dơ cao vụt vào vùng lưng bà H1, sau khi bị vụt bà H1 chạy ra ngoài sân, H đuổi theo, khi đến sân trước cửa nhà, H túm được tóc bà H1 giật mạnh về phía sau làm bà H1 ngã nằm ngửa xuống sân, trong lúc ngã bà H1 túm được tóc của H làm cả hai cùng ngã xuống đất, H đứng dậy cầm cán kìm bằng hai tay đánh, đập và đâm liên tiếp phần lưỡi cắt của chiếc kìm vào vùng mặt và cẳng tay trái của bà H1. Khi nghe thấy tiếng kêu cứu, la hét của bà H1, chị Bàn Thị T (con dâu) và cháu Lý Hải Đ (con trai) chị T chạy đến can ngăn, chị T nói “Bố dừng lại ngay, sao lại làm thế”, lúc này H đang cầm kìm trên tay và đứng cạnh bà H1. Khi cháu Đăng bật điện sáng lên thì nhìn thấy H đang cầm cán kìm dơ cao và đâm mũi kìm theo chiều hướng từ trên xuống làm mũi kìm cắm sâu vào vùng đầu bên trái bà H1, sau đó H bỏ chạy ra phía sau nhà.

Bà H1 được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa Thảo Nguyên huyện M, tỉnh S, sau đó được chuyển đến Bệnh viện Hữu nghị Việt - Đức Thành phố Hà Nội cấp cứu trong tình trạng bất tỉnh, đa chấn thương. Sau khi bỏ chạy được khoảng 200m thì Lý Văn H bị ngã, rơi xuống hủm hốc đá có độ sâu khoảng 10m và bị gẫy tay trái, đến chiều ngày 03/11/2019 người dân đã phát hiện thấy Lý Văn H nên báo Công an huyện Mộc Châu đưa H đến Bệnh viện đa khoa Thảo Nguyên huyện M, tỉnh S cấp cứu. Quá trình điều trị, Bệnh viện đa khoa Thảo nguyên đã cắt bỏ cánh tay trái của Lý Văn H do bị hoại tử.

Kết quả khám nghiệm hiện trường, xác định: Hiện trường nơi xảy ra vụ án là nhà ở của Lý Văn H, bà Bàn Thị H tại Tiểu khu T, thị trấn N, huyện M, tỉnh S; nhà 03 gian bằng gỗ, lợp ngói có diện tích 9,4m x 6,6m nền nhà được láng bằng vữa xi măng. Kết quả khám nghiệm phát hiện thu giữ 01 chiếc kìm dạng kéo cắt tỉa cành cây dài 63cm, phần lưỡi bám dính dịch màu nâu đỏ ở phía trước cửa chính ngôi nhà và một số dấu vết, đồ vật có liên quan.

Kết quả xem xét dấu vết trên thân thể của bị hại Bàn Thị H. Sau khi bị thương đã được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Thảo Nguyên huyện M, tỉnh S và Bệnh viện Hữu nghị Việt - Đức, Thành phố Hà Nội từ ngày 01/11/2019 đến ngày 20/11/2019 thì được ra viện.

Căn cứ vào bệnh án khi nạn nhân nhập viện xác định: Vỡ xương hàm, trật khớp thái dương hàm trái, vỡ xương mũi, vỡ trần ổ mắt phải, vỡ thành trong ổ mắt phải, vỡ xương hàm trên hai bên, vỡ các thành xoang hàm trái, tụ máu trong các xoang hàm mặt, vỡ xương đỉnh trái lan vào phần đá xương thái dương, gẫy 02 xương cẳng tay trái.

- Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 04/TgT, ngày 07/01/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La kết luận: “Các chấn thương vùng đầu, mặt, lưng, tay của Bàn Thị H là do tác động trực tiếp của vật có cạnh sắc gây nên. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 76% (Bảy mươi sáu phần trăm)”.

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về tâm thần số: 193/KLGĐ, ngày 09/6/2020 của Viện pháp y tâm thần Trung ương, kết luận về tình trạng tâm thần, khả năng nhận thức của Lý Văn H như sau:

+ Trước, trong, sau khi phạm tội và tại thời điểm giám định bị can Lý Văn H có biểu hiện hội chứng nghiện nhiều loại ma túy. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 bệnh có mã số F19.2:

+ Tại các thời điểm trên bị can có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Vật chứng của vụ án thu giữ gồm: 01 chiếc kìm dạng kéo cắt tỉa cành cây; 01 cuộn dây, dạng dây cước màu xanh; 03 chiếc dép; 01 chiếc áo phông cộc tay:

01 chiếc áo khoác màu đen; 01 chiếc chăn nhung màu đỏ; 01 mảnh kim loại màu vàng; 01 miếng bông gạc thấm chất màu đỏ nghi là máu.

Về trách nhiệm dân sự: Do có quan hệ vợ chồng nên bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án (các con của bị hại) không yêu cầu Lý Văn H phải bồi thường.

Tại Cáo trạng số: 118/CT-VKS-P2 ngày 20/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố Lý Văn H về tội Giết người quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Lý Văn H phạm tội Giết người.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn H từ 12 đến 13 năm tù.

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án (các con của bị hại) không yêu cầu bị cáo Lý Văn H phải bồi thường nên không xem xét.

* Vật chứng của vụ án: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo Lý Văn H: Nhất trí với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố bị cáo về tội Giết người là có căn cứ đúng người, đúng tội. Do có sự mâu thuẫn cãi chửi nhau giữa vợ chồng, dẫn đến bực tức không kìm chế được bản thân. Bị cáo đã dùng kìm dạng kéo cắt tỉa cành cây ăn quả, đánh đập, đâm và chọc phần lưỡi nhọn vào vùng trọng yếu của bị hại. Tuy nhiên, bị cáo không nhằm mục đích tước đoạt tính mạng nên đã tự ý dừng lại. Sau khi bị bắt quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 13 năm tù.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận, nhất trí với đề nghị của Luật sư và xin giảm nhẹ hình phạt.

Ý kiến tranh luận của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Ý kiến tranh luận của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lý Văn H và Lý Văn C, không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền đã chi phí cứu chữa điều trị cho bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, Luật sư và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lý Văn H và Bàn Thị H (bị hại trong vụ án) có quan hệ là vợ chồng, tối 31/10/2019 sau khi đi uống rượu về nhà, bị cáo với vợ là bà H1 xảy ra mâu thuẫn cãi, chửi nhau dẫn đến xô sát. Do bực tức không kìm chế được bản thân, bị cáo H đã dùng 01 chiếc kìm bằng sắt, lưỡi sắc nhọn (loại kìm dùng để cắt tỉa cành cây ăn quả) dài 63cm vụt vào vùng lưng và cẳng tay trái; đâm, chọc phần lưỡi nhọn của chiếc kìm vào vùng mặt của bà H1. Khi được con dâu là chị Bàn Thị T đến căn ngăn, bị cáo không dừng lại mà còn tiếp tục cầm kìm dơ cao đâm xuống làm mũi kìm găm sâu vào vùng đầu bên trái của bà H1. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản khám nghiệm hiện trường của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, lập hồi 21h ngày 31/10/2019; sơ đồ hiện trường và bản ảnh chụp hiện trường nơi xảy ra vụ án; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu thu giữ của vụ án.

- Bệnh án điều trị của bị hại Bàn Thị H tại Bệnh viện đa khoa Thảo Nguyên huyện Mộc Châu và Bệnh viện hữu nghị Việt Đức - Hà Nội xác định: “Vỡ xương hàm, trật khớp thái dương hàm trái, vỡ xương mũi, vỡ trần ổ mắt phải, vỡ thành trong ổ mắt phải, vỡ xương hàm trên hai bên, vỡ các thành xoang hàm trái, tụ máu trong các xoang hàm mặt, vỡ xương đỉnh trái lan vào phần đá xương thái dương, gãy 02 xương cẳng tay trái.

- Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 04/TgT ngày 07/01/2020 của trung tâm pháp y tỉnh Sơn La kết luận: Các chấn thương vùng đầu, mặt, lưng, tay của bà H1 là do tác động trực tiếp của vật có cạnh sắc gây nên. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 76% (bảy mươi sáu phần trăm).

- Kết luận giám định pháp y tâm thần số: 193/KLGĐ ngày 09/6/2020 của Viện pháp y tâm thần trung ương kết luận:

“Trước, trong, sau khi phạm tội và tại thời điểm giám định bị can Lý Văn H có biểu hiện hội chứng nghiện nhiều loại ma túy. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F19.2. Tại các thời điểm trên bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, vật chứng thu giữ của vụ án.

Từ các căn cứ chứng minh nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lý Văn H phạm tội Giết người quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Lý Văn H chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt giữa vợ chồng, đã sử dụng 01 chiếc kìm bằng sắt, lưỡi sắc nhọn (loại kìm sử dụng để cắt tỉa cành cây ăn quả) dài 63cm vụt, đâm và dùng phần lưỡi nhọn đâm chọc vào vùng thái dương đỉnh trái của bà H1 làm vỡ xương hộp sọ, vỡ xương hàm trái, gẫy 02 xương cẳng tay trái, gây tổn hại sức khỏe cho bà H1 76%. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện tính côn đồ, vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân. Tuy đã có người căn ngăn nhưng bị cáo không dừng lại mà còn tiếp tục cầm kìm dơ cao đâm xuống làm mũi kìm găm sâu vào vùng đầu bên trái, được coi là bị cáo cố tình thực hiện tội phạm đến cùng. Bị hại Bàn Thị H không chết là được mọi người đưa đi cấp cứu kịp thời nằm ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là ông Lý Văn Khìn được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51, bị hại không chết nên cần áp dụng khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt: Bị cáo phạm tội có 01 tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 (có tính chất côn đồ); có 01 tình tiết tăng nặng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; có các tình tiết giảm nhẹ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; có bố đẻ là người có công với Nhà nước; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Xử bị cáo mức án cao hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị của Luật sư.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại đã trả chi phí cứu chữa và điều trị cho bị hại bà Bàn Thị H tại bệnh viện, tổng số tiền là 70.000.000đ. Do bị cáo và bị hại có quan hệ vợ chồng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (các con của bị hại) không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét.

[8] Về vật chứng thu giữ trong vụ án:

- Đối với 01 chiếc kìm dạng kéo cắt tỉa cành cây; 01 cuộn dây dạng dây cước; 03 chiếc dép nhựa; 01 chiếc áo phông; 01 chiếc áo khoác; 01 chiếc chăn nhung; 01 mảnh kim loại màu vàng; 01 miếng bông gạc, xét thấy không còn giá trị sử dụng, bị hại không yêu cầu trả lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Lý Văn H phạm tội Giết người, xử phạt bị cáo Lý Văn H 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/02/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói vật chứng còn nguyên niêm phong, bên trong gói có 01 chiếc kìm dạng kéo cắt tỉa cây; 01 cuộn dây dạng dây cước; 01 chiếc dép nhựa (dép chân phải) nhãn hiệu ASIA; 01 chiếc dép nhựa (dép chân phải) nhãn hiệu Fashion; 01 chiếc dép nhựa (dép chân trái) nhãn hiệu Fashion; 01 chiếc áo phông cộc tay; 01 chiếc áo khoác màu đen; 01 chiếc chăn nhung màu đỏ:

01 chiếc phong bì do bưu điện phát hành còn nguyên niêm phong, bên trong có 01 mảnh kim loại màu vàng; 01 chiếc phong bì do bưu điện phát hành còn nguyên niêm phong, bên trong có 01 miếng bông gạc. Thu giữ khi khám nghiệm hiện trường. (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La với Cục thi hành án dân sự tỉnh Sơn La lập ngày 19/10/2020).

4. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Bị cáo Lý Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 01/12/2020).

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

196
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 19/2020/HSST ngày 01/12/2020 về tội giết người

Số hiệu:19/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:01/12/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về