Bản án 19/2019/HS-PT ngày 25/02/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

BẢN ÁN 19/2019/HS-PT NGÀY 25/02/2019 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 25/02/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 105/2018/HSPT ngày 10/12/2018 đối với bị cáo Lục Đức Dương, do có kháng cáo của bị cáo Lục Đức Dương đối với bản án hình sự sơ thẩm số 63/2018/HSST ngày 08/11/2018 của Toà án nhân dân huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.

* Bị cáo có kháng cáo: Lục Đức D, sinh năm 1990. Nơi ĐKHKTT: xã B, huyện K, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú: thôn S, xã M, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12. Con ông Lục Đức H, sinh năm 1955 và bà Bùi Thị Â, sinh năm 1957. Tiền sự, tiền án: Không. Nhân thân: Ngày 29/5/2014, Công an huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.

Bị cáo đang tại ngoại “có mặt”.

Ngoài ra còn có 01 bị hại và 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo; không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lục Đức D là lái xe của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và Dịch vụ Ô tô, Xe máy L-V có địa chỉ tại phường Hà Khẩu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

Ngày 02/6/2018, ông Nguyễn Thanh V điều động D đến công ty nước khoáng Quang Hanh ở Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh nhận nước khoáng để đi giao cho các nhà phân phối ở huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh và ở thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. D điều khiển xe ôtô tải biển số 14C-12929 (xe của công ty giao cho D quản lý) đến công ty nước khoáng Quang Hanh nhận 1646 thùng nước khoáng, giao cho nhà phân phối ở huyện Đông Triều 936 thùng nước khoáng xong thì trời tối nên D gọi điện thoại báo cho ông V, ông V bảo D điều khiển xe ô tô cùng hàng hóa về bãi để xe ô tô của công ty tại bãi xe Long Lâm có địa chỉ ở Quán gỏi, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương để và ngày 04/6/2018 đi giao hàng tiếp. Đến sáng ngày 04/6/2018 D một mình điều khiển xe ô tô nói trên chở 710 thùng nước khoáng tiếp tục giao cho nhà phân phối ở thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây, do có 30 thùng nước khoáng bị ướt vỏ nên nhà phân phối ở Bắc Ninh không nhận 30 thùng nước này. Thấy vậy D chở 30 thùng nước khoáng nói trên về. Trên đường về, D nghĩ theo hợp đồng lao động với công ty thì D phải chịu trách nhiệm về số hàng hóa bị hỏng, kết hợp với việc chưa được lĩnh lương tháng 5 nên D đã nảy sinh ý định thay 03 chiếc lốp còn mới của xe ô tô nói trên bằng 03 chiếc lốp cũ. Khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đi trên đường quốc lộ 5A chiều Hà Nội - Hải Dương, đến địa phận Phố Mới, xã Nhân Hòa, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, D phát hiện có một cửa hàng làm lốp xe ô tô của vợ chồng anh Nguyễn Văn H nên đã lái xe vào và hỏi anh H về việc đổi 03 chiếc lốp cùng săm còn mới của xe ô tô biển số 14C-129.29 để lấy 03 chiếc lốp cùng săm cũ hơn. Sau khi anh H và chị Đào Thị H1 (vợ anh H) kiểm tra thì thỏa thuận với D sẽ đổi 02 chiếc lốp cùng săm ở phía sau bên ghế lái và 01 chiếc lốp cùng săm bên ghế phụ của xe ô tô nói trên thay vào đó bằng 03 chiếc lốp cùng săm đã cũ, D sẽ được hưởng số tiền là 3.000.000 đồng. D đồng ý và nhận số tiền trên. Sau đó D điều khiển xe ô tô về bãi xe của công ty. Trên đường đi D gọi điện báo cho ông V biết về việc có 30 thùng nước khoáng bị ướt vỏ và D sẽ chịu trách nhiệm về 30 thùng nước đó, đồng thời D xin nghỉ việc. Khi điều khiển xe đi đến xã Phùng Chí Kiên, D đã gọi điện cho bà Bùi Thị Â là mẹ đẻ của D ra lấy 30 thùng nước khoáng trên để mang về bán rồi D điều khiển xe ô tô về để ở bãi xe Long Lâm của công ty. Ông V thấy D gọi điện báo nghỉ làm nên đã đến bãi xe Long Lâm để kiểm tra xe thì phát hiện có 03 chiếc lốp xe ô tô nói trên bị đổi bằng 03 chiếc lốp cũ hơn.

Ngày 04/6/2018 ông V đã đến Công an huyện Mỹ Hào trình báo sự việc trên.

Cùng ngày cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Hào đã tiến hành khám nghiệm hiện trường. Ngày 04/6/2018 chị H1 đã tự nguyện giao nộp 03 chiếc lốp gồm (01 chiếc lốp cùng săm còn mới đã qua sử dụng, trên bề mặt lốp có chữ MAXSIX; 02 chiếc lốp cùng săm còn mới đã qua sử dụng, trên bề mặt lốp có chữ DERUIBO); ông V tự nguyện giao nộp 03 chiếc lốp cùng săm đã cũ (trong đó 01 chiếc lốp có chữ DOUBLE ROAD, 01 chiếc lốp cùng săm trên có chữ BRIDGESTONE, 01 chiếc lốp cùng săm trên có chữ DOUBLE COIN) cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Hào để phục vụ công tác điều tra.

Ngày 04/6/2018 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Hào tiến hành cho D tự chỉ dẫn đến cửa hàng làm lốp của anh H. Kết quả D xác định đúng cửa hàng anh H là nơi D đã tráo đổi 03 chiếc lốp cùng săm còn mới trên xe ô tô nói trên để lấy 03 chiếc lốp cùng săm đã cũ, để hưởng số tiền chênh lệch là 3.000.000 đồng.

Cùng ngày D đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Hào số tiền 3.000.000 đồng là tiền D được hưởng khi đổi 03 chiếc lốp.

Ngày 05/6/2018 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Hào tiến hành cho anh H và chị H1 nhận dạng D. Kết quả anh H và chị H1 đều nhận ra Dương là người đã đến cửa hàng của anh chị để đổi 03 chiếc lốp cùng săm để lấy số tiền chệnh lệch.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐ ngày 30/6/2018 của Hội đồng định giá huyện Mỹ Hào đã kết luận: 01 quả lốp nhãn hiệu Maxxis, loại R20 1100 có giá trị 6.840.000 đồng, 02 quả lốp do Trung Quốc sản xuất trên có dòng chữ DE RUI BO loại lốp 1100 R20 có giá trị 10.450.000 đồng; tổng giá trị 03 quả lốp trên là 17.290.000 đồng. 01 quả lốp có dòng chữ DOUBKE ROAD, 01 quả lốp DOUBLE CON, 01 quả lốp BRIDGE STONE không còn giá trị sử dụng, giá trị phế liệu của 03 quả lốp trên là 300.000 đồng. Tổng giá trị chênh lệch tài sản là 16.990.000 đồng.

Đối với anh Nguyễn Văn H và chị Đào Thị H1, khi đổi lốp cho D không biết hành vi phạm tội của D nên không có căn cứ xử lý.

Quá trình điều tra ông V có đơn xin lại 03 chiếc lốp cùng săm của chiếc ô tô biển số 14C-129.29. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Hào đã trả lại 03 chiếc lốp cùng săm nói trên cho ông V. Ông V nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì. Đối với 30 thùng nước khoáng, bà Bùi Thị Â đã trả lại cho ông Nguyễn Thanh V, ông V nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.

Anh H có đơn xin lại 03 chiếc lốp cùng săm của cửa hàng anh đã dùng để đổi cho D. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Hào đã trả cho anh H tài sản nói trên, anh H nhận lại tài sản và yêu cầu D phải trả lại cho anh số tiền 3.000.000 đồng anh đã trả cho D khi đổi những chiếc lốp trên.

Tại bản án số 63/2018/HSST ngày 08/11/2018, Toà án nhân dân huyện Mỹ Hào đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Lục Đức D phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Xử phạt: Bị cáo Lục Đức D 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án;

Ngoài ra bản án còn quyết định về phần xử lý về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 22 tháng 11 năm 2018, bị cáo Lục Đức D kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Bị cáo Lục Đức D giữ nguyên kháng cáo xin được cải tạo tại địa phương.

Ông Nguyễn Thanh V, người bị hại vắng mặt nhưng có đơn xin xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự điểm a Khoản 1 Điều 175; điểm b, h, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lục Đức D; Sửa Bản án sơ thẩm số 63/2018/HSST ngày 08/11/2018, Toà án nhân dân huyện Mỹ Hào theo hướng giữ nguyên hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Bị cáo Lục Đức D kháng cáo trong thời hạn quy định của pháp luật nên kháng cáo là hợp pháp được chấp nhận.

[2]. Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lục Đức D đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để kết luận: Sáng ngày 04/6/2018, Lục Đức D được Công ty TNHH thương mại và dịch vụ ô tô xe máy L-V giao xe ô tô tải BKS 14C - 129.29 chở hàng là các thùng nước khoáng giao cho nhà phân phối ở thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi hoàn thành vệc giao hàng, D điều khiển xe về bãi đỗ xe của công ty; khi về đến Phố Mới, xã Nhân Hoà, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, D điều khiển xe vào cửa hàng làm lốp xe ô tô của vợ chồng anh Nguyễn Văn H và tráo đổi 03 chiếc lốp cùng săm có chất lượng tốt có giá trị 17.290.000 đồng của chiếc xe ô tô bằng 03 chiếc lốp cùng săm đã cũ, rách có giá trị 300.000 đồng của anh Nguyễn Văn H để hưởng số tiền chênh lệch là 3.000.000 đồng từ anh H. Bởi hành vi trên, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lục Đức D về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo của bị cáo Lục Đức D; Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của Công ty TNHH thương mại và dịch vụ ô tô xe máy L-V. Hành vi của bị cáo không chỉ ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của công ty mà việc tráo đổi lốp xe ô tô còn mới bằng lốp xe đã cũ hết hạn sử dụng còn tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn giao thông trong quá trình sử dụng chiếc xe ô tô nói trên. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ vào nhân thân của bị cáo để xử phạt 01 năm tù là phù hợp. Tuy nhiên tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo xuất trình đơn xin được cải tạo tại địa phương, có xác nhận của chính quyền, đơn của ông Nguyễn Thanh V là người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng; Ông, bà ngoại bị cáo là người có công được tặng Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng và Huân chương kháng chiến, đây là những tình tiết giảm nhẹ mới. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, nên không cần phải buộc bị cáo cách ly ra ngoài xã hội để giáo dục mà chỉ cần xử bị cáo mức phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Nên kháng cáo của bị cáo xin cải tạo tại địa phương có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 343; điểm b Khoản 1 và Khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[1]. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lục Đức D.

Áp dụng: điểm a Khoản 1 Điều 175; điểm b, h, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lục Đức D 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai năm) tính từ ngày ngày tuyên án phúc thẩm 25/02/2019.

Giao bị cáo Lục Đức D cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp bị cáo Lục Đức D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

[2]. Về án phí: Bị cáo Lục Đức D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


64
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 19/2019/HS-PT ngày 25/02/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:19/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hưng Yên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/02/2019
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về