Bản án 19/2019/HS-PT ngày 18/01/2019 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

BẢN ÁN 19/2019/HS-PT NNGÀY 18/01/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 18 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 271/2018/TLPT-HS ngày 07 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Trần Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2018/HS-ST ngày 16/10//2018 của Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

- Bị cáo có kháng cáo:

Bị cáo Trần Văn T, sinh năm 1995; nơi sinh: Huyện N, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn 2, xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L và bà Bùi Thị H; có vợ Vũ Thị T, có con sinh ngày 01/01/2019; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Văn T, có giấy phép lái xe hạng C, số 370182002632 do Sở giao thông vận tải tỉnh Ninh Bình cấp ngày 23/4/2018, có giá trị đến ngày 23/4/2023. Khoảng 23 giờ ngày 02/6/2018, bị cáo T điều khiển xe ô tô tải trộn bê tông biển kiểm soát 92C - 126.50 (xe này do Công ty Cổ phần xây dựng Việt Hàn - Chi nhánh Quảng Nam đứng tên chủ sở hữu) lưu thông theo tuyến đường Trần Nhân Tông về hướng Cầu Cửa Đại, xã C, thành phố H với tốc độ khoảng 40km/h. Khi đi đến đoạn đường thuộc tổ 1, thôn Thanh Nhì, xã C, thành phố H, bị cáo T điều khiển xe ô tô BKS 92C - 126.50 lấn sang phần đường bên trái theo chiều đi của mình tông vào xe mô tô biển kiểm soát 92K5 - 8098 do anh Ngô Hồng Q điều khiển chở phía sau là anh Nguyễn Trương P, lưu thông theo chiều ngược lại. Hậu quả: Anh Q tử vong tại chỗ, anh P tử vong trên đường đi cấp cứu, xe ô tô BKS 92C - 126.50 bị hư hỏng phần đầu xe, xe mô tô BKS 92K5 - 8098 bị hư hỏng hoàn toàn.

Với nội dung vụ án như trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/2018/HS-ST ngày 16 tháng 10 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố H đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 năm tù.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 31/10/2018 bị cáo Trần Văn T kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo mức án phù hợp. Tại phiên tòa, bị cáo xin được hưởng án treo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo Trần Văn T không tranh luận; nhận tội và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Lời khai của bị cáo Trần Văn T tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm, các chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 23 giờ ngày 02/6/2018, tại đoạn đường thuộc tổ 1, thôn Thanh Nhì, xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam, bị cáo Trần Văn T đã điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 92C - 126.50 lấn sang phần đường bên trái tông vào xe mô tô biển kiểm soát 92K5 - 8098 do anh Ngô Hồng Q điều khiển chở phía sau là anh Nguyễn Trương P, lưu thông theo chiều ngược lại, gây hậu quả làm anh Ngô Hồng Q tử vong tại chỗ và anh Nguyễn Trương P tử vong trên đường đi cấp cứu. Hành vi trên của Trần Văn T đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn T đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, thái độ thành khẩn, ăn năn hối cãi của bị cáo và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là đã bị cáo T hiện tính nhân đạo của pháp luật. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo với mức án 02 năm tù là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định của pháp luật so với những tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.

[3] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

[4] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T, giữ nguyên phần hình phạt bản án hình sự sơ thẩm số 27/2018/HS-ST ngày 16 tháng 10 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 02 (Hai) năm tù về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


96
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về