Bản án 19/2018/HS-PT ngày 29/01/2018 về tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 19/2018/HS-PT NGÀY 29/01/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Ngày 29/01/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 06/2018/HSPT ngày 06 tháng 01 năm 2018 đối với các bị cáo Nguyễn Thanh H, Trần Ngọc P do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 117/2017/HSST ngày 27/11/2017 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

-  Các bị cáo kháng cáo:

1.  Nguyễn Thanh H, sinh năm 1998 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: K48/36 đường P, tổ 6, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh V và bà Hà Thị Ngọc T; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

2.  Trần Ngọc P,  sinh năm 1993 tại Quảng Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: K85/11B đường P, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc P và bà Phan Thị K, có vợ là Hoàng Thị B; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng  22 giờ 30 ngày 18/6/2017, Nguyễn Thanh H đi bộ đến khu vực bãi tắm biển Mỹ Khê thuộc phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng chơi thì thấy 01 xe mô tô Sirius mà đỏ-đen BKS 74H1-058.39, trị giá 7.240.000 đồng của anh Nguyễn Văn L dựng trên vỉa hè, không khóa cổ và không có người trông coi nên H trộm cắp xe mô tô này. Sau đó, H điều  khiển xe về nhà cất giấu. Đến ngày 19/6/2017, H lên mạng vào trang wed chotot.vn rao bán xe vừa trộm cắp được. Trong quá trình rao bán thì có Trần Ngọc P thỏa thuận mua và hẹn gặp tại trước siêu thị Vincom, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà để mua bán xe.

Đến khoảng 20 giờ ngày 19/6/2017, H rủ bạn gái là Hoàng Phạm Ngọc H đi bán xe cùng nhưng không nói cho H biết xe này H đã trộm cắp được. Sau khi thống nhất với H, P nhờ một người bạn tên Viễn (không rõ nhân thân, lai lịch) chở đến điểm hẹn mua xe. Khi gặp xem xe, H nói xe không có giấy tờ thì P biết xe này là do trộm cắp mà có nhưng vì ham rẻ P vẫn mua xe của H với giá 3.750.000 đồng. Đến ngày 22/6/2017, H đến công an quận Sơn Trà đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Đối với số tiền bán xe H giữ lại và đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Sơn Trà.

Ngoài ra, qua quá trình điều tra Trần Ngọc P còn khai nhận từ tháng 4/2014 đến nay P đã nhiều lần vào trang mạng chotot.vn tìm mua được 03 xe mô tô không giấy tờ. Trong đó 02 xe mô tô đã xác minh được chủ sở hữu, Cơ quan điều tra Công an quận Sơn Trà đã chuyển thông tin và tài liệu đến cơ quan điều tra Công an quận Cẩm Lệ và Công an huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam tiếp tục điều tra xử lý sau. Đối với xe mô tô bị cáo tiêu thụ không xác định được chủ sở hữu cơ quan điều tra Công an quận Sơn Trà tiếp tục điều tra xử lý sau.

Tại Bản án sơ thẩm số 117/2017/HSST ngày 27/11/2017 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng đã quyết định:

Áp dụng: khoản 1 Điều 138; điểm b, p, h khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh H 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 250; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999

Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc P 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do ngưi khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

Bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án.

Ngày 08/12/2017, bị cáo Nguyễn Thanh H có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xử nặng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 11/12/2017 bị cáo Trần Ngọc P có đơn kháng cáo với nội dung: Hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ đang mang thai, con còn nhỏ, xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng chủ thể, trong hạn luật định nên đảm bảo hợp lệ.

Về nội dung:  Bị cáo Nguyễn Thanh H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô trị giá 7.240.000 đồng của anh Nguyễn Văn L. Sau đó H bán cho Trần Ngọc P với giá 3.750.000 đồng, mặc dù biết là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vì hám rẻ P vẫn mua để sử dụng. Bản án hình sự sơ thẩm  số 117/2017/HSST ngày 27/11/2017 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà đã xét xử bị cáo Nguyễn Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999; Bị cáo Trần Ngọc P về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội” theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự 1999 là có căn cứ, đúng tội. Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tuy nhiên xét thấy cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo được hưởng, xử phạt bị cáo H 09 tháng tù, bị cáo P 06 tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo không có tình tiết nào mới. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thanh H, Trần Ngọc P đã khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo như đã nêu trên. Các bị cáo thừa nhận bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo là đúng tội, chỉ xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Thanh H, Trần Ngọc P khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tôi của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định Bản án sơ thẩm số 117/2017/HSST ngày 27/11/2017 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà đã xét xử bị cáo Nguyễn Thành H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999; bị cáo Trần Ngọc P về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Thanh H, Trần Ngọc P thì thấy: Khoảng  22 giờ 30 ngày 18/6/2017, tại khu vực bãi tắm biển Mỹ Khê, phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng, Trần Thanh H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô Sirius mà đỏ-đen BKS 74H1-058.39, trị giá 7.240.000 đồng của anh Nguyễn Vă L. Sau khi trộm được xe, Hiếu vào trang mạng chotot.vn rao bán. Trần Ngọc P mặc dù biết rõ xe mô tô Nguyễn Thanh H bán do phạm tội mà có nhưng vì ham rẻ bị cáo vẫn mua về sử dụng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Do đó đối với bị cáo cần xử phạt thỏa đáng để cải tạo giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đồng thời áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng, xử phạt bị cáo H 09 tháng tù, bị cáo P 06 tháng tù là phù hợp, không nặng. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới, do đó Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Căn cứ vào:  Khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh H 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

2. Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Căn cứ vào:  Khoản 1 Điều 250; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Ngọc P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc P 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do ngưi khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Nguyễn Thanh H, Trần Ngọc P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


191
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về